Được vua Lê Anh Tông chấp thuận, năm 1558, Nguyễn Hoàng đã cùng với người cậu ruột là Thái phó uy quốc công Nguyễn Ư Dĩ đưa ra phương án và cùng với gia quyến, quân dân lên đường đến tỉnh Quảng Trị...
Điểm dừng chân đầu tiên của đoàn quân Nam tiến ấy là cửa Việt Yên (nay là Cửa Việt, huyện Gio Linh, tỉnh Quảng Trị). Tại đây, Nguyễn Hoàng cho quân binh đóng trại ở Gò Phù Sa, xã Ái Tử, huyện Đăng Xương (hay Vũ Xương) thuộc huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị.
Lúc bấy giờ, Lưu thủ Thuận Hóa là Tống Phướng Trị người ở Tống Sơn, Thanh Hóa đã tìm đến để vái chào Nguyễn Hoàng, đồng thời dâng lên cho Nguyễn Hoàng bản đồ và sổ sách trong xứ và xin được một lòng phò tá. Người dân địa phương cũng hết sức vui mừng khi hay tin triều đình nhà Lê đã cử một vị quan lớn vào trấn nhậm xứ sở của mình nên đã đón tiếp quan Trấn thủ vô cùng trọng thể, đồng thời tôn xưng Nguyễn Hoàng là nhà Chúa. Nhân dịp này, những bô lão đã mang đến dâng lên nhà Chúa 7 vò nước tinh khiết.
Quan Thái phó Nguyễn Ư Dĩ nhìn thấy việc làm đó của nhân dân đã nói với Nguyễn Hoàng rằng: "Cháu mới đến đất này mà được người dân dâng nước cho, ấy là điềm được nước vậy". Nguyễn Hoàng mừng vui khôn xiết và xem đó như là một điềm đại cát cho mình, đặc biệt là khi ông nhớ lại câu khuyên bảo của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm: “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân”.
Cùng với những gì mà bản thân Nguyễn Hoàng nhìn thấy, ông chắc rằng lòng dân nơi đây đã thần phục, vì lẽ đó mà ngay từ những ngày đầu tiên đến dựng nghiệp ở vùng đất mới, Nguyễn Hoàng đã tự hứa với lòng mình là sẽ bằng mọi cách biến vùng đất nghèo nàn, khắc khổ này thành một vùng đất trù phú để làm đất “dung thân” cho mình và con cháu về sau. Tuy nhiên, tận trong sâu thẳm lòng mình, Nguyễn Hoàng vẫn không khỏi e dè bởi đây là một vùng đất chướng khí mà còn là vùng đất giặc giã liên miên. Ngoài việc quân nhà Mạc, Chiêm Thành, Chân Lạp thường xuyên đánh phá thì bên trong vẫn tồn tại bọn cướp biển, giặc cỏ nổi lên bất cứ lúc nào…
Theo sử sách, Thuận Hóa là địa phận của hai châu Ô, Lý mà xưa kia là quận Ulik của Chiêm Thành. Mảnh đất rộng lớn này là quà sính lễ của vua Chiêm Thành, Chế Mân Shimhavarman Đệ tam dâng lên vua Trần Anh Tông để cưới công chúa Huyền Trân làm vợ. Ngày Chế Mân chết, theo tục lệ của Chiêm Thành thời ấy thì Hoàng hậu phải lên giàn hỏa thiêu theo xác vua. Nhưng thượng tướng nhà Trần là Trần Khắc Chung đã âm thầm vượt biển vào đất Chiêm Thành để giải cứu Huyền Trân mang về nước. Từ đó, người Chiêm Thành nổi giận nên đã nhiều lần kéo quân ra đánh Bắc Hà. Mãi hơn một thế kỷ sau, vua Lê Thái Tông mới đánh thắng Chiêm Thành để làm chủ hẳn đất Ulik. Tuy nhiên, vì mối hận xưa nên thỉnh thoảng quân Chiêm Thành vẫn tràn sang đánh phá.
Có thể nói, đất Thuận Hóa thời Nguyễn Hoàng mới đến trấn nhậm là một mảnh đất rộng lớn bao la, hầu như chưa có bàn tay của con người đến khai phá. Dân tình lúc ấy chủ yếu kéo nhau đến lập làng ở những vùng gần sông nước, họ chỉ khai phá những vùng đất màu mỡ trồng trọt lúa, ngô, khoai, đậu để phục vụ cuộc sống qua ngày. Vì vậy mà Nguyễn Hoàng đã cho dân tự do khai hoang lập hóa. Ai có sức khai hoang được bao nhiêu thì được quyền làm chủ đất ấy. Nhờ chính sách khuyến khích cùng với sự giúp đỡ của chính quyền trong việc khai hóa đất đai mà lãnh thổ, ngày một mở rộng.
Như một lẽ thường tình trong cuộc sống, cứ vùng đất nào màu mỡ, trù phú thì người dân lại kéo nhau về sinh sống, họ lập nên chợ để giao thương, đào thêm kênh mương để tưới tiêu và rút ngắn hệ thống giao thông nội địa… Chẳng mấy chốc, vùng đất vốn được xem là "khỉ ho cò gáy" khi Nguyễn Hoàng mới đến để lập dinh trại nay đã là một miền đất hứa cho dân chúng ở vùng Thanh - Nghệ di cư vào định cư.
Những ngày đầu dựng nghiệp ở đất phương Nam, Nguyễn Hoàng rất quan tâm đến việc thu phục lòng người. Với sự giúp sức tận tình của Thái phó Nguyễn Ư Dĩ, Nguyễn Hoàng đã có rất nhiều việc làm khiến lòng dân hoan hỉ như việc ông cho bố cáo chiêu hiền đãi sĩ, giảm thuế cho dân, việc sai dịch cũng được giảm tối đa, chỉ trừ những trường hợp quá ư cần thiết… Ông lo cho dân chúng trong xứ sở ông trấn nhậm được an cư lạc nghiệp ngay sau khi di trú đến vùng đất mới, hành trình ấy đã phải trải qua không biết bao nhiêu gian khó, nhưng nhờ ông là một con người có đầu óc tổ chức tốt nên mọi khó khăn cũng được hóa giải.

Dựng lại cảnh khi Nguyễn Hoàng vào Ái Tử, dân sở tại dâng “nước” để ông lập quốc. Ảnh: Linh Linh Ba lần lập dinh trấn
Tại hội thảo khoa học “Chúa Nguyễn Hoàng với vùng đất Quảng Trị” nhà nghiên cứu văn hóa - lịch sử Nguyễn Xuân Hoa cho rằng: trong 55 năm dựng nghiệp ở Quảng Trị, chúa Nguyễn Hoàng đã ba lần lập dinh trấn. Dinh Ái Tử (1558 - 1570) là vùng đất mới thời khởi nghiệp, nơi thu phục nhân tâm. Dinh Trà Bát (1570-1600) thế phát triển mới của vùng đất Thuận - Quảng. Đầu năm Canh Ngọ 1570, Trịnh Kiểm đã dâng biểu xin vua Lê cho gọi Tổng binh Quảng Nam là Nguyên quận công Nguyễn Bá Quýnh về trấn thủ Nghệ An và giao Nguyễn Hoàng kiêm quản cả hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam. Chính trong tình thế đó, Nguyễn Hoàng đã quyết định dời dinh trấn sang làng Trà Bát, ngôi làng nằm gần Ái Tử, chếch về phía đông bắc. Nay là hai làng Trà Liên Đông, Trà Liên Tây, xã Triệu Giang, huyện Triệu Phong. Có thể nói, khoảng thời gian từ 1570 - 1600, với 30 năm hình thành và phát triển, dinh trấn Trà Bát đã giữ vai trò là trung tâm hành chính, quân sự và kinh tế của hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam, thực chất là của vùng Đàng trong về sau.
Lần thứ ba vừa từ kinh đô về lại Trà Bát năm 1600, Nguyễn Hoàng lại quyết định dời dinh trấn từ Trà Bát sang phía đông dinh Ái Tử trước đây, với tên gọi mới là Dinh Cát. Dù ba lần lập dinh trấn, nhưng Nguyễn Hoàng vẫn bám giữ trục Ái Tử làm căn cứ địa, giữ vững vùng đất dựng nghiệp mà mình đã chọn từ buổi đầu tiên, song lần này với một tâm thế khác hơn trước, tâm thế muốn chuyển từ một vị Tổng trấn tướng quân trở thành một "chân chúa", độc lập với uy quyền của Trịnh Tùng vừa mới trở thành chúa Trịnh ở phương Bắc.
Vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm là vì sao Nguyễn Hoàng chọn đất Quảng Trị làm chỗ dựng nghiệp cho đến khi ông qua đời? Tiến sĩ Phan Thanh Hải cho rằng: “Vùng “tam dinh” là vị trí chiến lược vô cùng quan trọng trên vùng đất Thuận Hóa vào giữa thế kỷ XVI. Chỉ đóng lỵ sở tại Quảng Trị, Nguyễn Hoàng mới khống chế được cả tuyến đường thủy bộ Bắc - Nam, cả hành lang giao thông và giao lưu kinh tế Đông - Tây (từ cửa khẩu Lao Bảo và các “nguồn” ở phía tây về Cửa Việt). Đây là trung tâm cung cấp hồ tiêu và nhiều loại hương liệu quý cho thị trường nhiều nước trên thế giới”.
Linh Linh - Nguyên Anh |