Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

Khách du lịch vẫn cao

Đảo Chàm là một cụm đảo, về mặt hành thẳng thắn thuộc xã đảo Tân Hiệp, đô thị Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km và đã được UNESCO xác nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đảo cù lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Hòn Mồ, một trong 8 hòn đảo của Đảo Chàm
Trong quá khứ, cụm đảo Ciam pullo, Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La ... (Đảo cù lao Chàm ngày nay ) từng là Tấm giấy ghi tên tuổi được đánh dấu đậm nét trên bản đồ hàng hải quốc tế ven biển Đông, từng là điểm dừng chân việc quen thuộc của thương thuyền nhiều nước ở phương Đông cũng như phương Tây trên các tuyến hải trình dọc theo các con đường hương liệu, tơ lụa, gốm sứ trên biển.
Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, công cụ đi lại trên biển rất thô sơ, những chuyến hải hành liên quốc gia thường phải kéo dài trong nhiều tháng. Cũng trong thời gian đó, giao tế thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ được thiết lập. Con đường hàng hải nối giữa Trung Quốc và Ấn Độ đi từ phía Bắc Việt Nam, dọc theo bờ biển của bán đảo Đông Dương, qua bán đảo Mã Lai ở phần phía bắc và tới Kancipura ở miền Nam Ấn Độ. Một con đường khác không cắt ngang qua bán đảo, nhưng đi xoi qua eo biển tới Malacca. Lúc này nhiều cảng thị hình thành trên bán đảo Đông Dương như: Phù Nam , Lâm Ấp... Chúng không chỉ là những trạm, những hải cảng quan trọng trên con đường biển quốc tế, mà còn là trú sở và điểm thu mua nhiều sản báu vật dùng để xuất biên như: trầm hương, hồ tiêu, ngà voi, tơ lụa, đồi mồi... Trong đó Cù lao Chàm là điểm tiền tiêu trên biển thuộc vương quốc Champa, nó là nhà cầu nối giữa Trung Quốc với Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư, Ai Cập và các nước Châu Âu. Cho nên, Cù lao Chàm có vịt xiêm xung yếu trong tuyến hàng hải khu vực ấn độ dương, là điểm dừng chân rất thuận tiện để thảo luận hàng hóa, tàng trữ lương thảo, nước ngọt của thương thuyền các thanh thủy cuộc hành trình đi đến các nhà nước khác trong khu vực ấn độ dương Đông Nam Á và một số vùng lân cận.

Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XII, con đường tơ lụa, hương liệu và gốm sứ được hình thành, hoạt động hàng hải trên biển thái hoà Dương rất nhộn nhịp. Tàu buôn từ Địa Trung Hải đến Trung Quốc mang theo vàng bạc và kim khí khai khẩn được từ các mỏ Ba Tư và các vùng lân cận; cùng sao thủy và các đồ Trang điểm là những sản phẩm của Trung Đông sang các nước phương Đông và Trung Quốc buôn bán, sau thời gian ấy họ mua lại đồ gia dụng, tơ lụa, gốm sứ, lâm thuỷ sản từ các nước này về. Trên chặng đường dài đó, họ đã đi qua quần đảo Đảo cù lao Chàm, để đi sâu vào lãnh hải phía nam Trung Quốc và các hải cảng của Nhật.

Đặc biệt, cuối thế kỷ XV, các quốc gia ở phương Tây với nhiều đoàn thuyền đồ sộ ào ạt tràn sang phương Đông để lùng thịt, làm cho hoạt động thương nghiệp trên biển của khu vực châu Á - thanh bình Dương trở nên sôi động hơn, tuần tự cuốn hút các nước phương Đông dự khán vào thịt chuye và thế giới đang hình thành , Việt Nam là một trong những nước nằm bên con đường thương mại quốc tế. Vào thời khắc này ở đường trong, Vương quốc Champa suy vong, người Việt đã làm chủ một vùng đất rộng lớn ở phía Nam. Dưới sự dẫn dắt của các chúa Nguyễn, người Việt kết dính những thành quả khai khẩn Chiêm cảng xưa của người Chăm và xây dựng Hội An trở nên một đô thị thương khẩu sầm uất, phát triển Dữ dội trong các thế kỷ XVII - XVIII. Cửa Đại Chiêm trở nên một trong những cảng thị tiện lợi để tàu bè quốc tế cập bến, thảo luận mua bán hàng hóa. Thương thuyền của các nước Nhật Bản , Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Malaixia, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... Tới Hội An buôn bán, thường phải qua trạm rà soát và thu thuế ở Đảo Chàm.
Đảo Chàm trở thành một thương khẩu sôi động ở lĩnh vực Đông Nam Á trong nhiều thế kỷ và là điểm dừng chân của các thuyền buôn trong nước cũng như quốc tế. Nguồn hàng hóa phong phú của xứ Quảng cùng vịt bầu thuận lợi trong con đường tơ lụa trên biển của cửa Đại Chiêm và Cù lao Chàm, cộng với chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn, đã nâng cao vai trò vùng đất Quảng Nam trong quá trình phát triển của xứ Đàng Trong.
2. Nên đi Cù lao Chàm vào thời điểm nào ?
Nên đi vào mùa hè để tận hưởng khí trời tiên tân và hưởng thụ cảm giác được nhảy xuống làn nước mát lạnh của biển đảo Chàm
Đi vào ngày rằm hàng tháng để phối hợp ngắm phố cổ Hội An và thưởng thực đặc sản ốc vú nàng đảo Chàm
Lễ giỗ tổ nghề lấy yến ở đảo Chàm diễn ra vào 9-10/3 ( âm lịch )
hội lễ cầu ngư ở cù lao Chàm diễn ra vào ngày 3-4/4 ( âm lịch )
3. Phương tiện tới cù lao Chàm
Bến tàu ở cù lao Chàm
Từ Hội An các bạn có 2 loại công cụ để ra đảo Chàm là canh ki na và tàu chợ. Ví như tuyển trạch canh bạc thời kì sẽ chỉ mất khoảng 20' nhưng giá thành cao , tuyển trạch tàu chậm giá thành rẻ nhưng mất khoảng 2h để ra được đảo , tuy thế khi đi tàu chợ bạn sẽ có cảm giác ưa thích khi được lênh đênh với từng con sóng , có thời gian để ngắm biển trời mênh mông. Ca no thường đi từ bến tàu Cửa Đại , tàu chậm thường xuất phát ngay từ bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An , số phôn của tàu 0985686465 ( Bác Bốn )
tàu chậm đi ra đảo Chàm xuất phát ngay tại bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An
Từ Hà Nội và Sài Gòn các bạn có xác xuất đi xe buýt giường phản tới Hội An rồi từ đó tiếp tục di chuyển bằng thuyền gỗ hoặc canh bạc ra với cù lao Chàm. Ở đảo Chàm, bạn có khả năng thuê thuyền đi quanh đảo, đưa đi lặn ngắm lưu li cho chủ động với kế hoạch của mình, không bị phụ thuộc như việc đặt tour đi trong ngày. Liên quan với các chủ nhà nghỉ để được hỗ trợ thuê thuyền hoặc liên quan trực tiếp với Chú Cữ 01677874651
4. Khách sạn nhà nghỉ tại cù lao Chàm
Trên đảo Chàm không có các khách sạn hay resort mà là các nhà nghỉ kiểu homestay nhưng rất thích với bất luận ai muốn khám phá hòn đảo xanh trông thích nhìn này. Giá service tại nhà dân khoảng 50k/1 người. Các bạn có thể liên hệ với một số phôn dưới đây. ( Anh Vốn dĩ một hướng dẫn viên du lịch tại đảo, nhà là quán cafe ở ngay cạnh Khu bảo tồn biển. Các bạn có thể liên hệ với anh Nguyên để nhờ đặt vé can , đặt nhà nghỉ , thuê thuyền , thuê xe máy đi du lịch quanh đảo. Anh ấy rất nhiệt thành giúp rập và hỗ trợ các bạn)
5. Các địa điểm du lịch và hoạt động vui chơi ở đảo Chàm
Các nơi chốn du lịch ở đảo Chàm ( Nhấn vào ảnh để xem to hơn)
đảo Chàm không phải là hòn đảo đặc biệt so với nhiều đảo gần bờ cũng như các khu dự trữ sinh quyển khác của Việt Nam. Cũng có bãi tắm thiên nhiên đẹp, phong cảnh hoang vu, hải sản phong phú... - Những lợi thế có thể bắt gặp ở bất kỳ hòn đảo du lịch nào, nhưng cái dấu ấn đặc sắc mà du khách bắt gặp ở cù lao Chàm không phải là những lợi thế đó mà Ấy là cách khai thác những lợi thế.
Nhà bảo tồn biển đảo Chàm
Nhà bảo tàng biển nằm ngay cạnh nhà đón tiếp khách khi tới cù lao Chàm
Điểm dừng chân đầu tiên khi thuyền cập bến tàu cù lao Chàm chính là nhà bảo tồn biển. Tuy nhỏ nhưng khi đến đây và được nghe các hướng dẫn viên trên đảo thuyết trình , dẫn dắt người nghe từ lịch sử hình thành , các phong tương truyền thống , hội lễ cho đến những phong phú của cù lao Chàm sẽ khiến bạn đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác.
Hệ thống các bãi biển của cù lao Chàm
Bãi Ông
Các bãi biển ở đây vốn thiên nhiên tạo hóa đã đẹp và người dân và chính quyền xứ sở đã khởi động các phong trào giữ giàng môi trường nên các bãi biển cù lao Chàm được giữ gìn sạch đẹp hơn, khách du lịch vì thế ngày một kéo về đây đông hơn, các service du lịch cũng hoàn thiện hơn.
Bãi Xếp là nơi du khách thường dừng lại lặn ngắm gồm kim
Dọc theo bờ biển từ Tây Bắc xuống Đông Nam của Hòn Lao , Có các bãi biển như: Bãi Bắc ( gồm 4 bãi nhỏ ) , Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Xếp ( gồm 3 Bãi nhỏ ) , Bãi Chồng , Bãi Bìm , Bãi Hương. Các bãi biển có bề dài từ 100m ( Bãi Bắc ) đến 700m ( Bãi Hương ); chiều rộng phổ biến là 20m.
Toàn cảnh Bãi Làng nhìn từ trên núi
Bãi Bìm
Các bãi biển thoải với nền cát trắng mịn , sạch , nằm xen giữa các mỏm đá nhô ra tạo nên sự sản vật phong phú của địa tầng địa mạo. Ở Bãi Bắc, Bãi Chồng du khách sẽ gặp nhiều khối đá lớn được mài tròn thiên nhiên hoặc nằm chồng lên nhau , tạo nên các hình ảnh gợi cảm mang tính biểu trưng sâu sắc.
Toàn cảnh Bãi Chồng
Tại Bãi Bắc , trên nền đám ma mòn xuất hiện nhiều hang tự nhiên. Tại Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Hương do các thềm cát mở rộng tạo thành bãi cát rộng từ 40 - 50m. Dân cư khai khẩn những dải đất bồi hẹp , tạo thành một số ruộng bậc thang sản xuất lương thực , thật phẩm. Như thế nhờ tự nhiên tạo vật và nhân tạo nên cù lao Chàm chứa nhiều cảnh đẹp tuy dung dị hoang sơ nhưng đầy gợi cảm.
Bãi Hương
Biển đảo Chàm trong xanh có khả năng nhìn thấy đáy sâu hàng chục mét. Làn thanh thủy vắt ấy như mời gọi ta xuống tắm , rồi phơi mình trên những bãi cát mịn tưng sạch sẽ.
Lặn ngắm lưu li
Là một khu bảo tồn biển nức tiếng bởi sự Đa chủng sinh học có nhiều giống loài quý hiếm , tuy nhiên những năm gần đây với lượng khách du lịch đến cù lao Chàm ngày một tăng thì áp lực khai khẩn trên vùng rạn gồm kim là rất lớn làm cho rạn hổ phách phục hồi chậm có tác động đến một điều gì đó cực kỳ trầm trọng cho hệ sinh cảnh biển tại đảo Chàm. Hầu hết các tour du lịch đảo Chàm đều có các hoạt động lặn ngắm san hô
Giếng cổ Chăm ( còn gọi là Giếng Xóm Cấm )
Giếng Xóm Cấm nằm tại ngã ba con đường bêtông của khu dân cư xóm Cấm , cách 500m về phía Đông Bắc là di tích Tiền Sa Huỳnh Bãi Ông , cách di tích khảo cổ Bãi Làng 300m về hướng Tây Nam. Cấu trúc của giếng mang đặc thù giống với nhiều kiểu giếng Chăm khác ở Hội An.
Giếng có kiểu hình ống tròn , thành giếng hình tròn , nền giếng hình vuông , ở mỗi góc có một trụ vuông. Diện tích khuôn viên giếng khoảng 15m2, đường kính miệng giếng khoảng 1,2m. Lòng giếng xây gạch tô vữa vôi, được xây theo kiểu “vành khăn." Độ sâu từ miệng giếng đến đáy giếng khoảng 5m. Tuy nhiên , trải qua quá trình sử dụng hàng trăm năm , người dân nơi đây đã cải tạo lại nền giếng và xây thêm gạch vữa ximăng lên thành giếng nên đã phần nào làm biến đổi cấu trúc.
Người dân tại thôn Bãi Làng cho biết Giếng Xóm Cấm là nguồn cung cấp nước rất nhiều cho người dân trong khu vực. Điểm đặc biệt là nước của giếng này không bao giờ cạn , dù cho là vào mùa khô kiệt nhất.
Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây thì nước Giếng Xóm Cấm cực kỳ hiệu nghiệm khi giải chứng bệnh say sóng. Ví như người nào đi từ lục địa ra cù lao chàm bị say sóng thì lấy nước Giếng Xóm Cấm nấu với lá rừng của cù lao Chàm ( chỉ người dân xứ sở mới nhận biết và thường hái loại lá này ) thì uống vào là hết say sóng.
Mặc dù chưa rõ ràng được chính xác niên đại của giếng , song qua so sánh đối chiếu với các kiểu giếng Chăm khác ở Hội An và vùng phụ cận cũng như báo cáo từ các nguồn tư liệu cổ thì các nhà chuyên trị ý là Giếng Xóm Cấm có thể đã được xây dựng cách đây khoảng trên 200 năm.
Bãi Đá Chồng
Chuyện kể rằng vào thời xa lắc xa lơ, đã lâu lắm rồi, thuở ông bà còn để chỏm, ở đất liền trù phú dân dã sống bình yên. Như mọi nhà, dưới mái tranh êm đềm có cặp thất gia nghèo. Do cả hai bên có chồng đều mất sớm vì đi biển gặp bão, những người vợ trẻ của họ ráng cắn răng chịu khổ nỗi cô đơn chồng chết để nuôi con khôn lớn. Bởi cùng cảnh ngộ nên cặp đôi trai gái đến với nhau thiên nhiên và thề yêu nhau đến trọn đời. Chàng trai có bộ ngực đô con và sức khoẻ vượt trội hơn hẳn mọi trai làng. Cô gái có nước da đen như trứng gà mới bóc. Khuôn mặt bầu bĩnh cùng mái tóc dài thon thả bồng bềnh làm tôn thêm vẻ yêu kiều của nụ cười luôn tươi rói trên môi. Vẻ đẹp của nàng được người trong làng từ già tới trẻ truyền tai nhau không chỉ vang xa hàng vạn dặm trên đất liền mà còn theo từng con sóng nước truyền đến tai Thần Biển. Ngày cưới của hai người được ấn định vào ngày đẹp trời. Cả làng đều mong cho họ răng long đầu bạc hạnh phúc trăm năm. Rồi ngày đứng trước bàn thờ tổ tiên một nhà cũng đã đến, hai người nguyện ước thiên thu không rời nhau. Bỗng đâu trời nổi giông gió, cát bụi mờ mịt mọi người không thấy mặt nhau. Đất dưới chân rung chuyển như muốn lún sụp thành vực thẳm. Trong bóng bão cát nhập nhoà hiện rõ gương mặt hung hãn của thần biển cùng tiếng nói chói lọi lỗ tai: Ai có gan tìm được nàng ta sẽ trả. Cô gái bị cướp đi trong tiếng gầm rú ghê người. Sau phút hoảng loạn mọi người cùng nhận ra rằng vì mê đắm nhan sắc nên Thần Biển đến cướp cô gái về phục dịch trong Thủy cung.
Không dưng mất nàng, lòng chàng trai đau như muối xát, giữ thề nguyền sắt son xưa, được sự giúp sức của dân làng, chàng trai nhịn nhục nỗi đau từ biệt hai người mẹ thân yêu cố chí đi tìm cứu vợ, thề rằng không gặp không về, nếu đuối sức ở đâu thì chết tại đấy. Độc thân một ghe, lương khô lót bụng , lấy gió làm bạn, lấy mưa nắng che mình. Trải bao có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn, thử thách rồi một ngày kia, chàng bị bão tố nổi lên đánh bạt vào bãi đá một hòn đảo. Sức người có hạn, đói khát và nỗi đau mất vợ cùng cùng sự mất hết hi vọng đơn chiếc xúm lại quật ngã chàng. Nam sáng, ánh dương dần chói chang cả hải phận đẹp. Ráng đứng lên hướng nhìn đất liền, tạ lỗi với dân làng về niềm tin mà họ đã gửi gắm, chàng đứng sững trút hơi thở sau chót. Dân trên đảo gần đấy nghe tiếng kêu ai oán kế sau tiếng sét rung trời. Thì ra mến trọng lòng chung thuỷ và sự chịu đựng thử thách của chàng, Ngọc bệ hạ Đế đã cho chàng hoá đá để mãi nhìn hồi trang hương trong khắc khoải đau thương vì thề thốt chưa trọn. Về sau lâu dần, hình chàng được mưa gió bào mòn thành hòn đá chồng lên nhau như hình người tinh vi, đang trong cơn thống khổ tuyệt vọng nên được gọi là Đá Chồng, bãi đá có hòn đá ấy cũng được gọi là Bãi Đá Chồng. Cũng có người nói do hòn đá nhỏ chồng lên hòn đá lớn nên gọi Đá Chồng.
Ông bà xưa kể rằng mấy thày địa lí người Tàu nói nếu đứng từ đây nhìn về Hội An thấy Cửa Đại và Hòn núi Chúa ở Khu thánh địa Mỹ Sơn là một đường thẳng. Đấy là hướng phong thuỷ hợp cung càn khôn như là sự định đoạt hài hoà của Trời và Đất. Bởi thế cù lao Chàm vốn dĩ là đất linh nhưng đất vùng này còn là tụ điểm địa linh ít nơi bì được. Cũng có người nói vùng đất Bãi Chồng là trái tim của cả hòn Biền, hòn Lao nên mọi hoạt động ở đây phải cẩn thận lắm mới có kết quả tốt.
Đã có một thời bọn cướp biển người Tàu thường chọn nơi Bãi Chồng làm nơi giấu tàu để lùng cướp, trấn lột những thương gia chân chính đến với cảng Hội An nên bãi cát gần Đá Chồng còn có tên Bãi Tàu. Nhưng có điều lạ là những tàu của bọn người làm điều phi nghĩa khi đậu ở đây sau thời gian ấy ra biển thường gặp nạn, không sóng lớn đánh vỡ tàu thì cột buồm cũng bị bẻ gãy, ít gặp bình an.
Với người lương thiện thì lại hay gặp may. Ai có lòng trước khi ra biển mà lên thắp hương van lạy sẽ dễ trúng lớn. Cá ở đâu không biết cứ về bơi hàng đàn quanh ghe để công chúng chỉ việc khoắng vợt xuống hớt lên. Chuyện xưa kể rằng ông Trùm Cải ở Bãi Làng có đứa nử tử mới đẻ được hơn năm nhưng hai chân cứ bắt chéo nhau không dứng lên được mới sai vợ bồng đến đây neo ghe ngủ qua đêm , một lòng một dạ khẩn cầu lời thề. Gần sáng bỗng một ông cụ râu tóc bạc phơ tay cầm cái gậy ngọc Như Ý đến gõ gõ vào chân con bé nói cha mày là Trùm , có lần làm ác mới đẻ ra mày khuyết tật, nay biết hối muốn làm điều lành, một lời cầu khẩn nên ta giúp đây, dậy mau, dậy mau, nói rồi biến mất. Mẹ con bàng hoàng trở dậy thấy chân con bé lành lặn không ngờ. Từ đấy không mấy ai dám làm ác ở Bãi Làng và ông Trùm Cải thì một lòng một dạ làm việc thiện, nghe nói sau này nhân chuyến du hành của một vị quan trong triều đến đảo qua gặp mặt, lại nghe quần chúng một lòng một dạ tán dương nên thấy yêu mến bèn đưa về kinh cho làm chức lớn. Thỉnh thoảng sau đó , ông Trùm Cải vẫn đưa vợ con về thăm đảo và cho tiền giúp nhiều người nghèo vượt qua cơn khó. Về sau nghe nói ông Trùm chết già ở kinh còn con gái lớn lên nức tiếng xinh đẹp và được làm dâu nhà quyền quý sung sướng cả đời.
Lại cũng hay tương truyền rằng vùng này linh lắm. Ai có tình nhân, có chồng, vợ bị tệ , hoặc chẳng gặp may chuyện lứa đôi trong đời , cứ đến đây thầm thì ước nguyện là qua vận rủi , còn nếu không , cũng thoả được niềm tư lự để thế cục xuôi chèo mát mái.
Truyện tích về Bãi Chồng ở cù lao Chàm qua nhiều người truyền xa Thấu suốt Quảng Ngãi , Bình Định đều biết. Cũng có khi được thêu dệt thêm nhiều tình tiết đau lòng đầy thương cảm nhưng đều có hậu. Cũng lại có chuyện kể rằng sau khi chết , chàng trai và cả cô gái được Ngọc Hoàng cho diện kiến để thử lòng bằng cách hỏi nguyện vọng muốn được sinh vào nhà quyền quý cao sang hay muốn đầu thai trở lại làm vợ chồng để thỏa nguyện ước basalt , dù có phải sống nghèo. Trong hai chỉ được quyền chọn một. Cả hai đều nhất định xin được sống với nhau cho trọn lời thề xưa , dù có phải bần hàn. Rồi Ngọc Hoàng cũng không nỡ nên đã cho họ tái sinh trở nên cặp phu phụ vừa ngh vừa nức tiếng thương yêu nhau rất đỗi , nghe nói là cặp thất gia khuôn phép số một trên người đời này. Mỗi khi được nghe kể công chúng đều chép miệng ao ước , phải như mình được một góc của họ và cố tìm dịp để vượt sóng nước đến với Bãi Chồng , Đá Chồng và đảo Chàm đầy ắp những truyền thuyết.
Chùa Hải Tạng
Chùa cổ Hải Tạng - cù lao Chàm là công trình cấu trúc tôn giáo tư tưởng thờ Phật kết hợp thờ thần thánh nhằm đáp ứng nhu cầu đạo đức của ngư gia trên đảo đảo Chàm nói riêng và cho thương thuyền các nước ghé vào hành lễ cúng kính tín ngưỡng Phật giáo với cầu mong được hộ trì trên con đường làm ăn , bán buôn của họ.
Chùa được xây dừng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt cách nơi này khoản 200m về phía bắc vì do bão làm hư hại nặng nề , để thuận lợi cho các tín đồ đến hành lễ Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt xiêm cách nơi này khoảng 200m về hướng đông bắc , sau vì do bão làm hư hại nặng và để thuận tiện cho các tín đồ thiên chúa giáo đến hành lễ nên vào năm Tự Đức nguyên niên ( 1848 ) Chùa được dời về vịt đàn hiện tại và tiếp được tu tạo khang trang hơn.
Chùa ở vào thế phong thủy lý tưởng , tọa lạc sát chân núi phía Tây của Hòn Lao thuộc cù lao Chàm , lưng tựa núi vững chãi , mặt tiền xoay theo hướng Tây – Tây Nam nhìn thẳng vào núi Bà Mộc như thể hòn xôi án ngữ. Đây là hướng nhìn lý tưởng , bởi có sự thông thoáng , tiền hậu , tả hữu rành mạch. Ngay dưới chân là đồng ruộng , khu dân cư và mờ xa về lục địa là thành thị cổ Hội An. Phía Nam có khoảng trống gió lùa trải dài qua Rừng Cấm ( nay là Xóm Cấm ) đưa hơi nước từ Hòn Nhờn lướt qua trước mặt thổi lên khu dốc Chùa. Theo truyền thuyết , dĩ vãng khu này rừng rậm có nhiều trăn , rắn độc. Bởi thế , để an toàn , tường thành bao bọc xung quanh chùa được xây bằng đá , cổng tam quan phía trước gồm 3 lối vào , tam quan tạo dáng vòm , mái lợp ngói âm dương và đắp nhiều con giống. Toàn bộ tam quan cao 5m , rộng nhất 1 , 5m , dài 6m. Kề ngay đấy là 4 trụ biểu , trên chóp trụ có khối hình hoa sen cánh lật… Dù tự nhiên khắc nghiệt , lại phải đương đầu với nhiều trận cuồng phong hàng trăm năm qua nhưng đến nay , công trình chính vẫn vững vàng , bề thế. Tuy nhà Tây đã bị sập không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả , nhà Đông còn lại phần cấu trúc chính nhưng toàn bộ di tích vẫn toát lên vẻ hào sảng uy nghiêm hiếm thấy ở các di tích khác. Chính điện lợp ngói âm dương , bờ nóc , bờ hồi đắp nổi nhiều đường nét uốn lượn mềm mại, uyển chuyển tạo cảm giác nhẹ nhàng.
Lùi vào mái hiên khoảng 2,5m là hệ thống giao thông cửa ( thường khép kín), thượng song hạ bản , gồm 3 bộ , mỗi bộ 4 cánh ngăn không gian bên ngoài với không gian nội thất. Hết thảy nếp nhà chính này có hệ vì kèo thành phần kiểu “chồng rường giả thủ” chia làm 3 lòng. Việc mở mang diện tích ở đây được sử dụng phương pháp tăng thêm lòng nhà bằng cách tăng cường hệ kết liên các cây rường, cột cái, cột quân và giả thủ trong thế đỡ thẳng lên đòn tay ( hoành ), lòng 3 của mái trước được ngăn cách bởi hệ thống cửa làm nên mái hiên. Với lối kiến trúc này, cộng với liên kết ngang gồm 4 vì ( vài ) chia làm 3 gian, tạo cho không gian nội thất của chùa thoáng khí, vừa có chiều cao, vừa có chiều sâu và mở rộng.
Nội thất chùa óng ả nhờ hệ thống hoành phi , câu đối sơn son thếp vàng , uy nghiêm , trình tự huyền ảo linh thiêng nhờ hệ thống tượng thờ khổng lồ trên những bàn hương án tả hữu , trước sau như những mạch nối tiếp kì bí thẳm sâu trong quang cảnh oai vệ đầy màu sắc. Ngh ii là bộ Tam thế Phật bằng hợp chất gồm 3 tượng. Kế đến là tượng Thích Ca ngồi trên đài sen…
Chùa có nhiều truyền thuyết nhưng cư dân ở đây vẫn tâm đắc nhất câu chuyện về việc xây chùa. Tương truyền các cây cột được làm từ ngoài Bắc đem về làm một chùa nào đó trong Nam nhưng khi về đến đảo Chàm vì trời tối nên phải neo ghe nghỉ lại. Sáng ra , ghe kéo neo đi tiếp , nhưng thật lạ thường , biển không dưng sóng dậy , ghe cứ xà quần , tới lui quanh co không đi ra khỏi Lao. Sau có người trong đoàn lên cúng xin keo mới biết dàn cột này phải để lại dựng chùa cho đảo Chàm không được đem đi. Bởi thế chùa dựng lên lấy tên là Hải Tạng. Hải là biển , Tạng là kinh , ý nói Chùa là nơi giao hội kinh tạng mênh mông như biển. Một ý khác là Kinh Tạng của Nhà Phật đây được tụ hội từ mọi con đường trên biển.
Chợ Tân Hiệp Phiên chợ sớm trên đảo cù lao Chàm
Đến du lịch cù lao Chàm , du khách chẳng thể không ghé qua Chợ Tân Hiệp ( nhiều khách du lịch gọi là Chợ cù lao Chàm ). Chợ Tân Hiệp bán các đặc sản rừng , biển và quà lưu niệm , Chợ Tân Hiệp nằm ngay bên trong chân cầu cảng du lịch , kề bên bến cá Bãi Làng. Cho rằng “chợ” nhưng lại thiếu hẳn những thanh âm ầm ĩ việc quen thuộc. Chỉ có những bước chân di chuyển rất chậm , để ngắm nghía , để sờ nắm và để ăn giá với giọng vừa đủ nghe. Ví như muốn , viễn khách cũng có thể ướm thử chuỗi hạt làm từ vỏ sò , thử hơi với chiếc tù ốc vỏ ốc hoặc giải nhiệt miễn phí với một cốc nước lá lao thơm nức , ngọt lịm…
Đảo Yến
đảo Chàm là nơi duy nhất của tỉnh Quảng Nam có loài chim Yến hàng - Collocalia Fuciphaga Genmaini Oustalet, thuộc phân giống Yến hông xám ( Swiftlets ), giống Collocalia, họ Apodidac, bộ Yến Apdiformes. Chim Yến có dáng vóc chỉ nhỏ bằng chim sẻ, hông và bụng màu xám , tất cả thân thể nâu đen; cánh dài ( 115-125mm ), vút nhọn, bay rất khoẻ, đuôi ngắn, chẻ đôi; mỏ ngắn, dẹp, có khả năng há rất rộng.
Hàng năm, vào cuối tháng 11 âm lịch, yến bắt đầu làm tổ theo một cách rất độc đáo: yến nhả nước miếng thành những dãi trắng lên những vách đá chênh vênh của các hang động trên đảo. Dãi yến mới nhả ra có màu trắng phớt hồng, gặp gió quánh lại, chuyển thành màu trắng đục.
Tổ chim yến thường được làm gọi là yến sào hay tai yến. Yến đẻ trứng , ấp trứng và nuôi cho đến khi chim con đủ sức tự bay đi kiếm mồi. Tổ yến có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, chiếm từ 36-52% protein và là một nguồn dược liệu rất quý. Tổ yến giúp tăng sức đề kháng cho thân hình, bổ khí huyết, tráng dương, ổn định thần kinh, chống lão hoá, làm đẹp nước da và có khả năng ngăn ngừa, thậm chí chữa được nhiều loại bệnh khó chữa như lao phổi, hen suyễn, viêm xương...Chính bởi vậy, yến sào là loại hàng hoá hiếm quý, có giá trên thịt từ xưa đến nay.
Ở Hội An , một ông lão họ Trần ngẫu nhiên phát hiện ra tổ yến sau đó tổ chức khai thác và nộp thuế. Vì thế , các chúa Nguyễn ( từ thế kỷ 17 ) đã cho lập “Đội Thanh Châu”, bản chất là giao cho dân làng Thanh Châu ( Hội An ) khai thác yến sào ở vùng đảo đảo Chàm và nộp thuế hàng năm cho nhà nước. Rồi đây, mở mang vào các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa.
Khai khẩn yến sào phải leo lên các vách đá chênh vênh, hiểm trở, bên dưới là mặt nước biển ăn sâu vào hang sâu, nếu sơ ý, người thợ khai khẩn khó an toàn tính mạng.
Ở cù lao Chàm, chim yến thường làm tổ trong các hang ở Hòn Khô (mẹ), Hòn Lao , hòn Tai... Việc khai thác yến sào ở Hội An ngày nay do Đội khai khẩn Yến, trực thuộc UBND Thị xã phụ trách. Mỗi năm, khai khẩn 2 kỳ ( vào tháng 4 và tháng 8 dương lịch ).
Miếu tổ nghề Yến
Miếu tổ nghề Yến nằm ở Bãi Hương - Hòn Lao - đảo Chàm. Miếu Tổ nghề Yến được xây dựng có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết vào khoảng đầu thế kỷ 19 để thờ Tổ nghề Yến và Các ngài thần bảo hộ nghề Yên. Hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch , cư dân và những người làm nghề khai khẩn yến tổ chức cúng rất linh đình để để sẵn cho mùa vụ khai thác mới
Trên bàn độc , ngoài các bài vị của những bậc tiền bối khai sáng nghề yến sào là các vị thần liên hệ đến sông biển. Trên tường bên hữu có tấm bia đá ghi công đức của các chư phái tộc và ca tụng vẻ núi kỳ vĩ của đảo Chàm.
6. Các món ăn ngon ở cù lao Chàm
Mực một nắng
Phơi mực một nắng ( Ảnh - Nova 224 )
Mực một nắng cù lao Chàm khá đa dạng với nhiều loại: mực lá , mực ống , mực tuộc , mực ghim... Song chỉ có mực ống mới chế biến được món mực một nắng ngon. Địa ngục ta chọn những con mực vừa mang từ biển về hãy còn tươi rói , sau đó chỉ phơi độc nhất một lần nắng giòn. Thực ra thao tác phơi chỉ là quá trình rút bớt nước cho bay bớt mùi tanh, mực còn ở dạng tái nên khi thưởng thức vẫn cảm nhận được độ tươi ngon của mực nhưng thấy cả hương vị của mực khô. Tuy nhiên, để mực một nắng ngon, người phơi cũng phải đảm bảo kỹ thuật, sao cho mực phơi rồi thân ngoài đã ráo hẳn nhưng bên trong thịt còn tươi rói.
Mực một nắng nướng tại chỗ được du khách rất ưa chuộng
Thường mực một nắng được khách du lịch chọn mua và nướng tại chỗ , thưởng thức ngay trên bãi biển cù lao Chàm lồng lộng gió. Mực một nắng tuy chế biến không khó nhưng đòi hỏi sự kĩ càng, phải nướng kỹ trên lửa than Khi mực chuyển sang màu vàng, mùi thơm bốc lên nưng nức hai cánh mũi là lúc mực vừa chín tới. Món này thường chấm với tương ớt cũng giống như mực khô nướng. Khi ăn, miếng mực ngọt ngào, mềm mềm, thơm lựng , hòa quyện với vị cay nồng của tương ớt. Mùa câu mực ở đảo Chàm diễn ra từ tháng 2-5 âm lịch nhưng đặc sản mực một nắng thì bạn có xác xuất mua quanh năm.
Cua đá
Cua Đá là một món ngon dân dã của xứ đảo cù lao mà ai từng đến đây cũng mong được nếm thử. Cua có vị thịt ngọt , thanh chứ không phảng phất vị tanh không có gì lạ hoặc đặc biệt của động vật miền biển. Do cua đá ăn các loại cây cỏ trên núi , nên thịt cua nồng một mùi cây rừng , thơm đến lạ.
Mỗi con cua đá trung bình chỉ lớn bằng nắm tay , và có màu sắc rất ấn tượng , mai và các chi màu nâu tím , phần bụng dưới ngả màu vàng ươm. Cua đá rất khoẻ , chạy nhanh , và thường chỉ lú đầu khỏi hang khi đêm xuống để đi ăn. Đó cũng là lúc những cư dân trên đảo đi săn cua đá. Một thợ săn cua cho biết , đi săn mà gặp 10 con , bắt được 4 - 5 con là nghề lắm rồi.
Cũng do cái “tội” nhanh chạy , bền bỉ , leo núi khoẻ , lại chuyên “ăn chay” nên thịt cua đá rất ngon , từ cái nước luộc cua đã đượm vị ngọt nhẹ , dịu thanh , thịt cua dai hơn hẳn cua bể , cua đồng , không chút mùi tanh. Nhưng cái độc chiêu nhất khi thưởng thức cua đá , đó là hương thơm nổi bật lạ hay bất thường. Giở ngược cái mai cua , túm mấy chân xé một đường , con cua mới luộc còn sỏi đá , phả làn khói nhẹ từ phần thịt nằm dưới mai cua , xông lên mũi thoảng đâu đó chút the the , cay cay mùi dược thảo , đem lại cho người ăn cảm giác cứ như đang hít hơi của nồi xông giải cảm.
Dân đảo ai cũng nói cua đá là một vị thuốc, hỏi kỹ thuốc trị bịnh gì thì… không ai rõ, nhưng chỉ biết ăn vào vừa ngon vừa lạ miệng, tinh thần bạc nhược thấy dễ chịu, cộng thêm cái hiu hiu của gió biển hoà cùng cảnh vật trời mây sóng nước, khiến cho cái thi vị trong từng miếng thịt cua xứ đảo càng tăng lên bội phần. Chẳng thế mà cua đá từ lâu đã trở thành “ngôi sao” của ăn uống ở cù lao Chàm, nên dù chỉ cách Hội An nửa giờ đi biển, con cua đá cũng không đủ nhiều để vào được bờ, cung cấp cho hằng hà sa số những lữ khách ngày ngày du ngoạn miền Hội An, Cửa Đại.
Ốc vú nàng
nên ra đảo đảo vào ngày trăng tròn để thưởng thức những món ăn được chế biến từ ốc vú nàng. Bởi giản đơn vào mùa trăng tròn ốc vú nàng mới hiện ra nhiều. Không phổ quát như ở Côn Đảo , Phú Quý…nhưng ốc vú nàng cù lao Chàm là đặc sản lạt sạt, lạ mắt đối với nhiều du khách. Chỉ với tên thôi, loài ốc độc đáo này đã khiến nhiều người muốn tinh quái, lùng hiểu. Thực ra vú nàng là loài ốc hình chóp lệch , trên đỉnh có một cái núm nhỏ trông tựa như bầu vú của cô gái dậy thì , vỏ ngoài màu đen xám, mặt trong lấp lánh ngân
Vì số lượng có hạn, nên dân bắt ốc chuyên nghiệp phải ngâm mình dưới nước hàng giờ, dùng đèn soi rọi vào tận kẽ đá , dùng mũi dao nhọn tách từng con ốc đang bám chặt vào thành đá. Thưởng thức từng con ốc giòn giòn, ngòn ngọt mới hiểu hết kỳ công của người đi bắt ốc. Người dân xứ biển có khả năng chế biến ốc vú nàng thành nhiều món, trước tiên là món luộc. Nói là luộc nhưng chẳng cần tí nước nào, những con ốc vú nàng tự thân khá nhiều nước, tự nó đủ nước luộc lấy.
Ốc bắt về ngâm nước cho sạch, xếp vào nồi, trong lúc luộc, mở nắp nồi, dùng đũa đảo ốc để cho thịt chín đều, sau thời gian ấy vớt ra. Trong giây phút những con ốc vú nàng đã bắt đầu co dần, khi thịt đã chuyển sang màu vàng, mùi thơm lan tỏa là ốc chín. Món này ăn nóng cùng với muối tiêu, chanh, người sành ăn dùng tay húp luôn nước trong con ốc.
Món thứ đến là món nướng, món này chịu tác động hoặc ảnh hưởng rõ rệt không kém món luộc. Theo dân “ghiền” đặc sản biển , món ốc vú nàng ngon nhất vẫn là ốc vú nàng chín khi được nướng trên lò than. Sắp ốc lên vỉ nướng , vài phút sau nước ốc nhỏ ra vỉ nướng xèo xèo, mùi thơm bốc lên nưng nức hai cánh mũi. Ốc vú nàng nướng phải vừa chín tới ăn mới ngon , để quá lửa thì thịt bám chắc hay săn quắt lại rất khó gỡ ra. Cứ việc một miếng ốc vú nàng, một ngụm rượu, trong khoảnh khắc số vỏ ốc đã bỏ đầy một góc. Món gỏi ốc vú nàng cũng đầy hương vị đậm đà khiến người thưởng thức khó mà quên được. Thịt ốc thái mỏng trộn với da lợn, thịt ba chỉ, dưa leo, rau răm, húng, đậu phụng rang giã dập nhỏ, chanh tươi, ớt và nước mắm ăn với bánh đa nướng , chấm với nước mắm gừng là tuyệt không gì bằng.
Bào ngư
Bào ngư cù lao Chàm là một loại ốc cực hiếm , được biết đến với nhiều tên gọi như ốc cửu không ( do có 9 lỗ trống ) hay hải nhĩ ( do có hình trạng giống cái tai ). Bào ngư được khách du lịch rất yêu thích. Loài ốc này bám vào những tảng đá ngầm lưu li ở vùng nước biển có độ mặn cao , sóng gió vì thế rất khó bị phát hiện. Để bắt được bào ngư cù lao Chàm , ngư gia có kinh nghiệm phải lặn sâu xuống biển và khó khăn lắm mới tách chúng ra khỏi những tảng đá.
Thịt bào ngư giòn , có mùi vị thơm. Các món từ bào ngư nếu biết cách phối hợp với các gia vị sẽ tạo nên những món ăn vô cùng quyến rũ mà không loại thuỷ sản nào sánh được. Bào ngư tươi có thể chế Hình thành nhiều món ăn như luộc, hấp , xào tùy theo từng khẩu vị của thực khách. Nhiều người ưa món bào ngư luộc với gừng. Để bề mặt nạc bào ngư sau khi luộc không bị rút lại và hiện ra các vết nứt phải bỏ bào ngư vào nồi khi nước gừng sỏi đá. Bào ngư luộc chấm muối tiêu chanh , thịt sẽ béo ngọt , ăn vào cảm giác lạ miệng, rất đặc biệt so với những loại thuỷ sản khác.
Rau rừng
Rau rừng đảo Chàm xếp hàng gồm 16 loại cây lá rừng mang hương vị của thuốc ta rau rừng mọc hoang ở các chân núi , khá sản vật phong phú về chủng loại: rau dớn , rau sân , rau lủi , mã đề… Đầu hạ là vào mùa chính thu hoạch rau rừng của đảo này. Đơn giản nhất là luộc rau , chấm mắm cái dầm ớt tỏi , khi thưởng thức món này. Qúy khách có thể thấm tháo được mùi của các loại rau hòa quyện lại với nhau làm nên một mùi thơm rất là đặc biệt và mang đặc thù riêng của rau rừng cù lao Chàm
bánh gio lá gai
Thuở ban sơ , bánh ít lá gai đảo Chàm chỉ hiện ra trong dịp lễ , tết truyền thống. Nhưng nhờ hương vị thơm ngon , bánh ít lá gai đảo Chàm thành thương hiệu riêng , nổi tiếng và không biết tự bao giờ , bánh ú là gai nơi biển đảo đảo Chàm đã trở thành hương vị khó quên với nhiều du khách mỗi lần ghé thăm.
Để cho sinh ra một chiếc bánh tro lá gai ngon phải trải qua rất nhiều công đoạn , đòi hỏi người làm bánh phải khéo léo và kĩ càng. Riêng tại vùng đảo cù lao Chàm quy trình làm bánh rất riêng , khó có xác xuất lầm lẫn. Đi hàng đầu chọn loại lá gai tươi. Người nấu bánh phải vào tận rừng trên đảo để tìm bằng được những gùi lá gai xanh đậm. Lá đem về xé làm hai , tước bỏ xơ , sống lá , rửa sạch , luộc cho lá mềm nhừ rồi vớt ra để nguội , vẩy cho thật ráo nước. Tặng vào cối hoặc máy nghiền từng ít một , giã cho lá nhuyễn mịn. Công đoạn tiếp theo là quết bột bằng cách trộn đều bột nếp ( loại bột nếp lúa mới , vừa thơm vừa dẻo ) sau đó quết hổ lốn bột với lá gai đã giã mịn. Khâu quết bột quyết định bánh có ngon hay không. Phải quết thật kỹ , nếu không hỗn hợp bột sẽ bị lợn cợn làm bánh không mịn. Sau khi quết , trộn đều nước đường tỉ lệ vừa ăn với hỗn tạp bột và lá gai , nhồi kỹ lần nữa cho thật mịn bóng.
Riêng phần nhân bánh làm bằng đậu xanh được hấp chín , giã nhuyễn mịn trộn với ít đường. Tuy nhiên , để có được chiếc bánh tro ngon và đạt hạng như ở vùng đảo đảo Chàm , phần nhân bánh không chỉ thuần túy làm bằng đậu xanh mà còn trộn chung với dừa nạo sợi trụng qua nước sôi để ráo và không quên nhỏ thêm vài giọt dầu hoa bưởi. Lần cuối là gói và mang bánh đi hấp. Địa ngục ta chọn lá gói bánh tro là lá chuối chát ( chuối hột ) , không dùng lá chuối khác. Địa ngục gói bánh phải đảm bảo bánh gói cho nhanh , biếu khéo. Từng cục bột được dàn mỏng , cho nhân vào , vo tròn. Lót từ hai đến ba miếng lá chuối xếp mí lên nhau , thoa phách lối lá trong cùng ít dầu ăn rồi đặt viên bánh vào giữa. Chỉ cần vài ba làn sóng điện khéo từ đôi bàn tay người thợ là đã có những chiếc bánh ú lá gai hình tam giác , hình tháp xinh xắn.
Bánh gói xong mang đi hấp cách thủy trong nồi nước sôi để lửa lớn. Khâu hấp bánh tưởng đơn giản nhưng cũng khá kỳ công và quyết định chất lượng bánh. Bánh phải xếp thưa , không quá hai chồng để dễ chín đều. Hấp đúng 30 phút sau khi nước sôi là được. Nhanh tay lấy bánh ra, để chỗ thoáng gió cho lá mau ráo.
Từ lâu, bánh gio lá gai là niềm kiêu hãnh của người dân nơi phố cổ Hội An. Địa ngục con xa quê trên mỗi bước đường cứ nhớ hoài mùi hương gạo nếp , hương lá gai phảng phất trong từng chiếc bánh tro nhỏ nhắn. Mỗi du khách khi đến Hội An cũng tìm đường vượt sóng đến được đảo cù lao Chàm để tha hồ thưởng thức những chiếc bánh tro hay tận mắt chứng kiến cách làm bánh rồi mua về làm quà cho người thân.
7. Các lễ hội ở đảo Chàm
hội lễ cầu ngư
Đến với Đảo cù lao, du khách không những ngắm chơi cảnh quan tuyệt đẹp với biển xanh, cát trắng, nắng vàng cùng những rạn xà cừ tuyệt đẹp , mà du khách còn bị lôi cuốn bởi những giá trị văn hoá tinh thần bạc nhược , các hình thái văn hoá phi vật thể vốn được bảo lưu dai sức, lặng thầm, sâu kín trong cuộc sống đời thường của các thế hệ cư dân hải phận đảo, mà trong đó lễ cầu ngư là một trong những hội lễ điển hình của cư dân xứ đảo này. Lễ cầu ngư năm nay diễn ra trong 2 ngày 23-24/4/2012 ( tức ngày mồng ba và mồng bốn tháng tư âm lịch ).
Việc suy tôn, tín bái cá ông là một tập tục có từ lâu đời của hầu hết ngư dân vùng ven biển miền Trung Việt Nam. Có khả năng nói, nơi nào có ngư gia sinh sống làm ăn thì nơi đó có lăng Ông để thờ cá voi. Quan niệm của những người cá cược tuy là, cá ông là vị thần biển nhân ái tính , thường Lộ rõ ra cứu vớt những người bị nạn trên biển, là vị phúc tinh kịp thời của nhân dân trên hải phận minh mông khi gặp nạn lụt. Bởi vậy, khi có cá voi lỵ ( lụy ) do nện nhau với cá mập, cá xà, phiêu bạt vào bờ thì người ta có nhiệm vụ phải làm đám tang đúng theo sách Thọ mai gia lễ , sau đó mai táng và đưa xương vào lăng thờ cúng. Dĩ vãng , nhà nước phong kiến Việt nam cũng xác nhận vai trò quan trọng của cá ông đối với ngư gia, nên đã Hai ba lần ban sắc phong, gia tặng mỹ tự là “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân tôn thần” và cho ngư gia khắp nơi xây lăng lập miếu để thờ.
Ở đảo Chàm , khi ngư dân phát hiện được xác cá voi luỵ họ thường đem chôn người chết tại Bãi Ông ( thôn Bãi Ông ) , vì nơi đây bãi biển có độ dốc thấp và có đất cát thông đạt các ngả nên rất thuận tiện cho việc mai táng. Sau khi chôn được 3 năm , người ta đào lấy xương cá ông, dùng rượu rửa sạch và thỉnh về thờ tại lăng Ông ở Bãi Làng.
Hàng năm , trước khi để sẵn ra khơi đánh bắt cá vụ nam , ngư dân cù lao Chàm thường tổ chức lễ cúng tại lăng Ông làm gọi là lễ cầu ngư. Dịch này được tổ chức khá quy mô với sự dự khán của hầu hết ngư dân sinh sống trên đảo và đông đảo ngư gia ở các vùng phụ cận. Trong suốt ngày lễ, ngoài việc cúng tế, người ta còn tổ chức hát bả trạo mà người dân Vùng đất quen gọi là hát chèo ( hát bả trạo hay hát chèo là vừa hát vừa cầm chèo biểu đạt làn sóng điện chèo thuyền, chứ không phải như hát chèo ở miền Bắc ).
Lễ cúng cầu ngư được diễn ra theo nghi thức cúng bái truyền thống vốn có từ bao đời nay của Vùng đất. Thư tế thường diễn ra trong hai ngày , ngày đầu người ta tổ chức bày trí trần thiết trong lăng; đến tối thì tiến hành quảy đơm túc ( còn làm gọi là lễ cáo yết hay lễ tiên thường ). Sang ngày hôm sau thì tổ chức lễ nghinh thần. Để tiến hành lễ nghinh , người ta làm một kiệu thần rồi đặt lên một chiếc thuyền lớn , trên thuyền trang trí cờ hoa , cờ hội rất là Xinh đẹp. Ngoài ra , còn Xếp đặt chiêng trống , đội nhạc để phụ trợ trong lễ nghinh thần. Sau khi nghinh thần về người ta tiến hành cúng âm linh , cầu an. Dịch cúng âm linh kéo dài khoảng hơn một giờ , sau thời gian ấy người ta hoá vàng mã và tiếp kiến phần tễ ông Ngọc Lân Nam Hải. Nhạc tế Ông thường bao gồm ba phần chính đó là sơ hiến lễ , á hiến lễ và chung hiến lễ; Trong lễ cúng bao giờ cũng có xướng tế , đọc văn tế và đi gia lễ. Thành phần nông dân tham dự cốt yếu trong lễ tế là các cụ cao tuổi , cư dân Vùng đất và ngư dân ở các vùng phụ cận. Thông thường sau khi kết thúc cúng bái là phần hát chèo bả trạo , quá khứ người ta còn tổ chức phường 6 , 7 ngày. Sau lễ cầu ngư , ngư gia thường tổ chức các hoạt động thể thao vui chơi giải trí như: đua thuyền , lắc thúng chai, kéo co…
mục tiêu chính của lễ cúng cầu ngư và hát bả trạo là nhân lúc trước khi ra khơi , người ta tổ chức cúng ông Nam Hải và chư thần để kỳ vọng làng xóm bình an , những người ra khơi được thuận buồm xuôi gió , đánh bắt được nhiều hải sản. Gồm: Thi cầu ngư ở cù lao Chàm là một trong những hội lễ dân gian truyền thống điển hình của xứ Cù Lao; Đây là một hội lễ gắn liền với đạo đức sông nước của đai da sống mũi dân làm nghề biển nên mỗi khi tổ chức đều cuốn hút đông đảo dân chúng hăng hái dự khán. Qua hội lễ này có thể thấy được sự phong phú , đa dạng về các hoạt động văn hoá lễ hội ở cù lao Chàm.
Lễ giỗ tổ nghề Yến ở đảo Chàm
Với mỗi một nghề , người Việt đều có ông tổ nghề và mỗi năm đến một ngày nhất quyết người dân lại có tục cúng tổ sư với lòng thành kính , tri ân. Nghề lấy yến ở đảo Chàm - Hội An cũng thế. Theo người dân đảo Chàm thì nghề khai thác yến sào chính thức sinh ra tại làng vào khoảng giữa thế kỷ XVIII , với hai tổ nghề là ông Trần Tiến và Hồ Văn Hòa.
Vào ngày mồng 9 và 10 tháng Ba âm lịch hàng năm tại xã đảo Tân Hiệp- cù lao Chàm người dân lại tổ chức lễ tế nhằm mong mỏi biển trời phù trợ và tưởng niệm tri ân các bậc tiền bối đã có công trạng đối với nghề khai khẩn Yến sào; đồng thời nâng cao niềm tự hào và ý thức gác canh nguồn tài nguyên tự nhiên quý hiếm của hải phận đảo. Ngày cúng bái diễn ra như ngày hội với nhiều hoạt động phong phú: Tế Tổ nghề Yến, Vui hội làng chài (đua ghe ngang, kéo co bằng thuyền trên biển, hội Bài chòi, trò chơi bịt mắt đập nồi), đêm hội đảo ( trình diễn nghệ thuật cổ truyền, giao lưu văn nghệ đất liền- hải đảo- du khách ), Chợ ẩm thực món ngon cù lao Chàm ( các đặc sản biển, rau rừng, bánh ú, tổ yến khô, yến chưng hột sen, rượu yến, rượu hải sâm- bào ngư... ), Tour tham quan thắng cảnh biển đảo- các khu du lịch cù lao chàm , hang Yến sào (hang Tò Vò), làng chài Bãi Hương, xem gồm kim, các loài hải sản dưới biển bằng thuyền đáy kính và thúng đáy kính khu vực Bãi Nần.

Người Việt du lịch xa ngày càng nhiều, trong đó có các điểm đến ở Mỹ

CôngThương - Sau khi các tour nước ngoài truyền thống như Thái Lan, Trung Quốc bị chựng lại, các hãng lữ hành Việt Nam chuyển hướng, tập trung vào tour ngoại xa hơn như Mỹ, châu Âu, Nhật, Dubai… và đang có sự tăng trưởng ấn tượng.

Tour ngoại “cứu” lữ hành

Trên website của các hãng lữ hành, nhiều tour ngoại đến châu Âu, Mỹ, Úc… được chào bán với giá từ 50-70 triệu đồng cho một hành trình khoảng 7 ngày 6 đêm. Mức giá này không hề thấp so với thu nhập trung bình của người Việt nhưng lại được khách lựa chọn giúp phân khúc thị trường này tăng trưởng khá mạnh. Ông Trần Văn Long, Giám đốc Công ty Du lịch Việt, cho biết chỉ tính riêng tour đến châu Âu đang có mức tăng trưởng từ 50%-60% trong nửa đầu năm. Mỗi tuần, công ty đều có từ 1-2 đoàn khách đi châu Âu.

Bà Đoàn Thị Thanh Trà, Giám đốc truyền thông tiếp thị Công ty Du lịch Saigontourist, cho biết các tour đến Nhật, Hàn Quốc, Úc, châu Âu, Mỹ, Dubai… tăng trưởng vượt trội so với các thị trường khác, bất chấp tình hình kinh tế trong nước còn khó khăn. Như thị trường khách Nhật, Hàn Quốc, Dubai tăng khoảng 22% so với cùng kỳ.

Thông thường, những người mua tour xa đã có kế hoạch du lịch từ trước và sẽ chọn Thái Lan với giá khoảng 7-10 triệu đồng/tour. Nhưng vài tháng qua, du lịch Thái Lan đang bị chựng lại hoặc có thời điểm phải ngưng do căng thẳng chính trị. Kết quả, du khách sẽ chọn tour thay thế tương đương với giá tiền hoặc cao hơn một chút như Singapore, Hồng Kông… “Trong số này, nhiều du khách sẵn sàng bỏ thêm khoản tiền để chuyển hẳn từ tour Thái Lan sang tour Hàn Quốc, Nhật” - bà Trà dẫn chứng.

Các thị trường tour xa tăng trưởng mạnh bởi trước đây, nhiều doanh nghiệp (DN) chỉ tập trung khai thác thị trường châu Á. Sau khi thị trường du lịch một số nước ở châu Á giảm sút hoặc phải ngưng khai thác, buộc các DN chuyển hướng sang châu Âu, Mỹ và thị trường khác…

Bà Trần Thị Việt Hương, Phó Giám đốc Truyền thông tiếp thị Công ty Du lịch Vietravel, phân tích: Kinh tế khó khăn ảnh hưởng đến nhiều DN nhưng vẫn có những DN hoạt động kinh doanh rất tốt nên khách đoàn đến các thị trường xa vẫn tăng trưởng ổn định. Thậm chí khi các thị trường gần như Campuchia, Thái Lan, Singapore, Malaysia đã quá quen thuộc, nhiều du khách lại muốn khám phá thị trường xa hơn như Mỹ, châu Âu, Úc.

Hàng không kích cầu

Đại diện nhiều hãng lữ hành cho biết yếu tố quan trọng giúp các thị trường xa dù kinh tế khó khăn vẫn đắt khách là nhờ giá tour giảm nhiều so với trước nhưng chất lượng không đổi. Ông Trần Văn Long phân tích với các tour du lịch xa, vé máy bay chiếm đến 40%-50% chi phí nên các hãng hàng không quốc tế giảm giá vé để kích cầu giúp giá tour giảm mạnh.

Với điểm đến Dubai, Thổ Nhĩ Kỳ, thị trường này đang thu hút sự quan tâm của khách Việt trong thời gian qua. Không chỉ có chính sách vào tận “sân nhà” Việt Nam quảng bá, kích cầu, Tổng cục Du lịch và DN các nước này còn hợp tác trực tiếp với các hãng lữ hành, hãng hàng không để khuyến khích khách hàng mua tour. Hai đường bay mở trực tiếp từ Việt Nam đến Dubai và Abu Dhabi khiến giá vé giảm mạnh so với trước. Hơn nữa, các hãng hàng không Dubai, Thổ Nhĩ Kỳ còn giúp tìm kiếm đối tác, khách hàng cho các công ty du lịch của Việt Nam.

“Với những người có kinh nghiệm đi du lịch, họ thường nhìn vào mức giá giảm để cân nhắc lựa chọn thị trường. Với Dubai, nhiều chương trình giảm giá hấp dẫn tác động không nhỏ đến quyết định mua tour của du khách” - bà Trà nói.

Nếu tour đến Mỹ trước đây khoảng 100 triệu đồng thì nay với sự hợp tác của các hãng hàng không, công ty du lịch… chỉ còn khoảng 65 triệu đồng. Bà Trần Thị Việt Hương cho biết trước đây, tour đi Mỹ tại Vietravel phải mua lại từ các công ty du lịch nước sở tại nên giá cao.

Sau này, Vietravel chủ động tìm đường sang Mỹ, lập văn phòng đại diện tại California và hợp tác trực tiếp với các điểm tham quan, nhà hàng, khách sạn… nên giá tour ngày càng rẻ. “Xu hướng giá tour sẽ ngày càng linh hoạt bởi từng công ty du lịch đang nỗ lực tìm kiếm đối tác, tìm hướng đi cho riêng mình để cạnh tranh bằng giá, đi kèm chất lượng dịch vụ” - bà Hương cho biết.

Đưa khách quay lại Thái Lan

Gần cuối tháng 7, các hãng lữ hành trong nước đang tích cực khởi động lại tour Thái Lan sau một thời gian bị ảnh hưởng bởi tình hình bất ổn chính trị ở thị trường này. Để cạnh tranh, nhiều hãng liên tục đưa ra các chương trình khuyến mãi với giá giảm vài triệu đồng so với trước.

Theo NLĐ

Người Việt du lịch xa ngày càng nhiều, trong đó có các điểm đến ở Mỹ

PHẢN HỒI


Làng tôi đất cửa rừng

Cù lao chàm là một cụm đảo, về mặt hành cương trực thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km và đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đảo Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Hòn Mồ, một trong 8 hòn đảo của Đảo cù lao Chàm
Trong quá khứ, cụm đảo Ciam pullo, Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La ... (Đảo Chàm hiện nay ) từng là Tấm giấy ghi tên tuổi được đánh dấu đậm nét trên bản đồ hàng hải quốc tế ven biển Đông, từng là điểm dừng chân quen thuộc của thương thuyền nhiều nước ở phương Đông cũng như phương Tây trên các tuyến hải trình dọc theo các con đường hương liệu, tơ lụa, gốm sứ trên biển.
Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, phương tiện đi lại trên biển rất thô sơ, những chuyến hải hành liên nhà nước thường phải kéo dài trong nhiều tháng. Cũng trong thời gian đó, giao tế thương nghiệp giữa Trung Quốc và Ấn Độ được thiết lập. Con đường biển nối giữa Trung Quốc và Ấn Độ đi từ phía Bắc Việt Nam, dọc theo bờ biển của bán đảo Đông Dương, qua bán đảo Mã Lai ở phần phía bắc và tới Kancipura ở miền Nam Ấn Độ. Một con đường khác không cắt ngang qua bán đảo, nhưng đi xuyên thấu eo biển tới Malacca. Bấy chừ nhiều cảng thị hình thành trên bán đảo Đông Dương như: Phù Nam , Lâm Ấp... Chúng không chỉ là những trạm, những hải cảng quan yếu trên con đường biển quốc tế, mà còn là trú sở và điểm thu mua nhiều sản vật quý dùng để xuất biên như: trầm hương, hồ tiêu, ngà voi, tơ lụa, đồi mồi... Trong đó Đảo cù lao Chàm là điểm tiền tiêu trên biển thuộc vương quốc Champa, nó là nhà cầu nối giữa Trung Quốc với Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư, Ai Cập và các nước Châu Âu. Thành thử, Cù lao Chàm có vịt hiểm yếu trong tuyến hàng hải chuye, là điểm dừng chân rất tiện lợi để trao đổi hàng hóa, tàng trữ lương thảo, nước ngọt của thương thuyền các thanh thủy cuộc hành trình đi đến các quốc gia khác trong khu vực Đông Nam Á và một số vùng lân cận.

Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XII, con đường tơ lụa, hương liệu và gốm sứ được hình thành, hoạt động hàng hải trên biển thái hoà Dương rất nhộn nhịp. Tàu buôn từ Địa Trung Hải đến Trung Quốc mang theo vàng ngọc và kim loại khai khẩn được từ các mỏ Ba Tư và các vùng lân cận; cùng sao thủy và các đồ Trang điểm là những sản phẩm của Trung Đông sang các nước phương Đông và Trung Quốc buôn bán, sau đó họ mua lại đồ gia dụng, tơ lụa, gốm sứ, lâm thuỷ sản từ các nước này về. Trên chặng đường dài đó, họ đã đi qua quần đảo Cù lao Chàm, để đi sâu vào vùng biển phía nam Trung Quốc và các hải cảng của Nhật.

Đặc biệt, cuối thế kỷ XV, các quốc gia ở phương Tây với nhiều đoàn thuyền khổng lồ ồ ạt tràn sang phương Đông để lùng thịt, làm cho hoạt động thương mại trên biển của khu vực ấn độ dương châu Á - thái bình Dương trở nên sôi động hơn, lần lượt lôi cuốn các nước phương Đông tham gia vào thịt thà khu vực và thế giới đang hình thành , Việt Nam là một trong những nước nằm bên con đường thương mại quốc tế. Vào thời điểm này ở đường trong, Vương quốc Champa suy vong, người Việt đã làm chủ một vùng đất Đông nhiều ở phía Nam. Dưới sự dẫn dắt của các chúa Nguyễn, người Việt kết nghĩa những thành tựu khai khẩn Chiêm cảng xưa của người Chăm và xây dựng Hội An trở thành một đô thị thương khẩu sầm uất, phát triển mạnh mẽ trong các thế kỷ XVII - XVIII. Cửa Đại Chiêm trở thành một trong những cảng thị tiện lợi để tàu bè quốc tế cập bến, thảo luận mua bán hàng hóa. Thương thuyền của các nước Nhật Bản , Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Malaixia, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... Tới Hội An buôn bán, thường phải qua trạm rà soát và thu thuế ở Cù lao Chàm.
Đảo Chàm trở thành một thương cảng sôi động ở khu vực ấn độ dương Đông Nam Á trong nhiều thế kỷ và là điểm dừng chân của các thuyền buôn trong nước cũng như quốc tế. Nguồn hàng hóa sản vật phong phú của xứ Quảng cùng vịt xiêm thuận lợi trong con đường tơ lụa trên biển của cửa Đại Chiêm và Đảo cù lao Chàm, cộng với chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn, đã nâng cao vai trò vùng đất Quảng Nam trong quá trình phát triển của xứ Đàng Trong.
2. Nên đi Đảo Chàm vào thời điểm nào ?
Nên đi vào mùa hè để tận hưởng không khí tươi tốt và hưởng thụ cảm giác được nhảy xuống làn nước mát lạnh của biển cù lao Chàm
Đi vào ngày rằm hàng tháng để phối hợp ngắm phố cổ Hội An và thưởng thực đặc sản ốc vú nàng đảo Chàm
Lễ giỗ tổ nghề lấy yến ở đảo Chàm diễn ra vào 9-10/3 ( âm lịch )
hội lễ cầu ngư ở cù lao Chàm diễn ra vào ngày 3-4/4 ( âm lịch )
3. Phương tiện tới đảo Chàm
Bến tàu ở đảo Chàm
Từ Hội An các bạn có 2 loại công cụ để ra cù lao Chàm là canh ki na và tàu chậm. Nếu tuyển trạch candela thời kì sẽ chỉ mất khoảng 20' nhưng giá thành cao , lựa chọn tàu chợ giá thành rẻ nhưng mất khoảng 2h để ra được đảo , tuy thế khi đi tàu chậm bạn sẽ có cảm giác huých khi được linh đinh với từng con sóng , có thời gian để ngắm biển trời minh mông. Ca no thường đi từ bến tàu Cửa Đại , tàu chậm thường xuất phát ngay từ bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An , số điện thoại của tàu 0985686465 ( Bác Bốn )
tàu chậm đi ra cù lao Chàm phát xuất ngay tại bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An
Từ Hà Nội và Sài Gòn các bạn có khả năng đi xe buýt giường phản tới Hội An rồi từ đó nối tiếp chuyển di bằng thuyền gỗ hoặc can chi ra với cù lao Chàm. Ở đảo Chàm, bạn có khả năng thuê thuyền đi quanh đảo, đưa đi lặn ngắm lưu li cho chủ động với kế hoạch của mình, không bị phụ thuộc như việc đặt tour đi trong ngày. Liên tưởng với các chủ nhà nghỉ để được hỗ trợ thuê thuyền hoặc liên hệ trực tiếp với Chú Cữ 01677874651
4. Khách sạn nhà nghỉ tại đảo Chàm
Trên cù lao Chàm không có các khách sạn hay resort mà là các nhà nghỉ kiểu homestay nhưng rất thú nhận với bất cứ ai muốn khám phá hòn đảo xanh rất xinh này. Giá lao vụ tại nhà dân khoảng 50k/1 người. Các bạn có khả năng liên hệ với một số phôn dưới đây. ( Anh Vốn dĩ một chỉ dẫn viên du lịch tại đảo, nhà là quán cafe ở ngay cạnh Khu bảo tồn biển. Các bạn có khả năng liên quan với anh Nguyên để nhờ đặt vé can chi , đặt nhà nghỉ , thuê thuyền , thuê xe máy đi du lịch quanh đảo. Anh ấy rất nhiệt thành giúp rập và trợ giúp các bạn)
5. Các địa điểm du lịch và hoạt động vui chơi ở cù lao Chàm
Các địa điểm du lịch ở đảo Chàm ( Nhấn vào ảnh để xem to hơn)
cù lao Chàm không phải là hòn đảo đặc biệt so với nhiều đảo gần bờ cũng như các khu dự trữ sinh quyển khác của Việt Nam. Cũng có bãi tắm tự nhiên đẹp, phong cảnh hoang sơ, thuỷ sản phong phú... - Những lợi thế có xác xuất bắt gặp ở bất kỳ hòn đảo du lịch nào, nhưng cái dấu ấn đặc sắc mà du khách bắt gặp ở cù lao Chàm không phải là những lợi thế đó mà chính là cách khai thác những lợi thế.
Nhà bảo tàng biển cù lao Chàm
Nhà bảo tàng biển nằm ngay cạnh nhà đón tiếp khách khi tới cù lao Chàm
Điểm dừng chân hàng đầu khi thuyền cập bến tàu cù lao Chàm Ấy là nhà bảo tàng biển. Tuy nhỏ nhưng khi đến đây và được nghe các hướng dẫn viên trên đảo thuyết trình , dẫn dắt người nghe từ lịch sử hình thành , các phong tục truyền thống , lễ hội cho đến những sản vật phong phú của đảo Chàm sẽ khiến bạn đi từ kinh ngạc này đến kinh ngạc khác.
Hệ thống giao thông các bãi biển của đảo Chàm
Bãi Ông
Các bãi biển ở đây vốn thiên nhiên tạo hóa đã đẹp và người dân và chính quyền địa phương đã phát động các phong trào giữ gìn môi trường nên các bãi biển cù lao Chàm được giữ giàng sạch Trội hơn, khách du lịch bởi thế ngày càng kéo về đây đông hơn, các lao vụ du lịch cũng hoàn thiện hơn.
Bãi Xếp là nơi du khách thường dừng lại lặn ngắm san hô
Dọc theo bờ biển từ Tây Bắc xuống Đông Nam của Hòn Lao , Có các bãi biển như: Bãi Bắc ( gồm 4 bãi nhỏ ) , Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Xếp ( gồm 3 Bãi nhỏ ) , Bãi Chồng , Bãi Bìm , Bãi Hương. Các bãi biển có chiều dài từ 100m ( Bãi Bắc ) đến 700m ( Bãi Hương ); chiều rộng phổ biến là 20m.
Toàn cảnh Bãi Làng nhìn từ trên núi
Bãi Bìm
Các bãi biển thoải với nền cát trắng mịn , sạch , nằm xen giữa các mỏm đá thò ra tạo nên sự phong phú của địa tầng địa mạo. Ở Bãi Bắc, Bãi Chồng du khách sẽ gặp nhiều khối đá lớn được mài tròn tự nhiên hoặc nằm chồng lên nhau , tạo nên các hình ảnh gợi cảm mang tính tượng trưng sâu sắc.
Toàn cảnh Bãi Chồng
Tại Bãi Bắc , trên nền đám cưới mòn Lộ rõ ra nhiều hang thiên nhiên. Tại Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Hương do các thềm cát mở mang gây nên bãi cát rộng từ 40 - 50m. Dân cư khai phá những dải đất bồi hẹp , tạo thành một số ruộng bậc thang làm ra lương thực , thiệt phẩm. Như thế nhờ thiên nhiên tạo hóa và nhân tạo nên cù lao Chàm chứa nhiều cảnh đẹp tuy bình dị hoang sơ nhưng đầy gợi cảm.
Bãi Hương
Biển cù lao Chàm trong xanh có xác xuất nhìn thấy đáy sâu hàng chục mét. Làn nước trong vắt ấy như mời gọi ta xuống tắm , rồi phơi mình trên những bãi cát mịn tưng sạch sẽ.
Lặn ngắm hổ phách
Là một khu bảo tồn biển lừng danh bởi sự Đa chủng sinh vật học có nhiều giống loài quý hiếm , tuy nhiên những năm gần đây với lượng khách du lịch đến cù lao Chàm càng ngày càng tăng thì áp lực khai khẩn trên vùng rạn xà cừ là rất lớn làm cho rạn gồm kim phục hồi chậm ảnh hưởng cực kỳ trầm trọng cho hệ sinh cảnh biển tại cù lao Chàm. Hầu hết các tour du lịch cù lao Chàm đều có các hoạt động lặn ngắm lưu li
Giếng cổ Chăm ( còn làm gọi là Giếng Xóm Cấm )
Giếng Xóm Cấm nằm tại ngã ba con đường bêtông của khu dân cư xóm Cấm , cách 500m về phía Đông Bắc là di tích Tiền Sa Huỳnh Bãi Ông , cách di tích khảo cổ Bãi Làng 300m về hướng Tây Nam. Kiến trúc của giếng mang đặc điểm giống với nhiều kiểu giếng Chăm khác ở Hội An.
Giếng có kiểu hình ống tròn , thành giếng hình tròn , nền giếng hình vuông , ở mỗi góc có một trụ vuông. Diện tích khuôn viên giếng khoảng 15m2, đường kính miệng giếng khoảng 1,2m. Lòng giếng xây gạch tô vữa vôi, được xây theo kiểu “vành khăn." Độ sâu từ miệng giếng đến đáy giếng khoảng 5m. Tuy nhiên , trải qua quá trình sử dụng hàng trăm năm , người dân nơi đây đã cải tạo lại nền giếng và xây thêm gạch vữa ximăng lên thành giếng nên đã phần nào làm biến đổi cấu trúc.
Người dân tại thôn Bãi Làng cho biết Giếng Xóm Cấm là nguồn cung cấp nước dồi dào cho người dân trong khu vực ấn độ dương. Điểm đặc biệt là nước của giếng này không bao giờ cạn , cho dù là vào mùa khô kiệt nhất.
Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây thì nước Giếng Xóm Cấm cực kỳ hiệu nghiệm khi giải chứng bệnh say sóng. Nếu người nào đi từ đất liền ra đảo chàm bị say sóng thì lấy nước Giếng Xóm Cấm nấu với lá rừng của đảo Chàm ( chỉ người dân xứ sở mới nhận biết và thường hái loại lá này ) thì uống vào là hết say sóng.
Mặc dù chưa xác định được chính xác niên đại của giếng , song qua so sánh đối chiếu với các kiểu giếng Chăm khác ở Hội An và vùng phụ cận cũng như báo cáo từ các nguồn tư liệu lịch sử cổ thì các nhà chuyên trị ý rằng Giếng Xóm Cấm có xác xuất đã được xây dựng cách đây khoảng trên 200 năm.
Bãi Đá Chồng
Chuyện kể rằng vào thời tun hút, đã lâu lắm rồi, thuở ông bà còn để chỏm, ở lục địa trù mật dân quê sống bình an. Như mọi nhà, dưới mái tranh yên ả có cặp vợ chồng nghèo. Do cả hai bên có chồng đều mất sớm vì đi biển gặp bão, những người vợ trẻ của họ ráng cắn răng chịu khổ nỗi cô đơn hoá bụa để nuôi con lớn khôn. Bởi cùng cảnh ngộ nên cặp đôi trai gái đến với nhau tự nhiên và thề yêu nhau đến trọn đời. Chàng trai có bộ ngực đô con và sức khoẻ vượt trội hơn hẳn mọi trai làng. Cô gái có nước da đen như trứng gà mới bóc. Khuôn mặt bầu bĩnh cùng mái tóc dài thuôn thả rập rình làm tôn thêm vẻ yêu kiều của nụ cười luôn tươi rói trên môi. Vẻ đẹp của nàng được người trong làng từ già tới trẻ truyền tai nhau không chỉ vang xa hàng vạn dặm trên lục địa mà còn theo từng con sóng nước truyền đến tai Thần Biển. Ngày cưới của hai người được ấn định vào ngày đẹp trời. Cả làng đều mong cho họ răng long Đầu tóc trắng hạnh phúc trăm năm. Rồi ngày đứng trước bàn thờ gia tiên cũng đã đến, hai người nguyện ước ngàn năm không rời nhau. Bỗng đâu trời nổi giông gió, cát bụi mịt mờ mọi người không thấy mặt nhau. Đất dưới chân rung chuyển như muốn lún sụp thành vực thẳm. Trong bóng bão cát loà nhoà hiện rõ gương mặt hung hãn của thần biển cùng ngôn ngữ chói lọi lỗ tai: Ai có gan tìm được nàng ta sẽ trả. Cô gái bị cướp đi trong tiếng gầm rú ghê người. Sau phút hoảng loạn Quần chúng cùng nhận ra rằng vì say mê nhan sắc nên Thần Biển đến cướp cô gái về phục dịch trong Thủy cung.
Tự dưng mất nàng, lòng chàng trai đau như muối xát, giữ thề nguyền son sắt xưa, được sự giúp sức của dân làng, chàng trai nín nhịn nỗi đau chia tay hai người mẹ thân yêu quyết chí đi tìm cứu vợ, thề rằng không gặp không về, nếu đuối sức ở đâu thì chết tại đấy. Đơn thân một ghe, lương khô lót bụng , lấy gió làm bạn, lấy mưa nắng che mình. Trải bao có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn, thử thách rồi một ngày kia, chàng bị bão táp nổi lên đánh bạt vào bãi đá một hòn đảo. Nhân lực có hạn, đói khát và nỗi đau mất vợ cùng cùng sự không còn trông mong gì được nữa đơn chiếc xúm lại quật ngã chàng. Đông sáng, ánh dương dần chói chang cả lãnh hải đẹp. Ráng đứng lên hướng nhìn lục địa, tạ lỗi với dân làng về niềm tin mà họ đã gửi gắm, chàng đứng sững trút hơi thở lần chót. Dân trên đảo gần đấy nghe tiếng kêu ai oán kế sau tiếng sét rung trời. Hoá ra mến trọng lòng chung thuỷ và sự chịu đựng thử thách của chàng, Ngọc chúa thượng Đế đã cho chàng hoá đá để mãi nhìn về quê hương trong khắc khoải đau thương vì thề thốt chưa trọn. Về sau lâu dần, hình chàng được mưa gió bào mòn thành hòn đá chồng lên nhau như hình người lắt mắt, đang trong cơn khổ cực tuyệt vọng nên được gọi là Đá Chồng, bãi đá có hòn đá ấy cũng được gọi là Bãi Đá Chồng. Cũng có người nói do hòn đá nhỏ chồng lên hòn đá lớn nên gọi Đá Chồng.
Ông bà xưa kể rằng mấy thày phong thuỷ người Tàu nói nếu đứng từ đây nhìn về Hội An thấy Cửa Đại và Hòn núi Chúa ở Khu thánh địa Mỹ Sơn là một đường thẳng. Đấy là hướng địa dư hợp cung càn khôn như là sự định đoạt hài hoà của Trời và Đất. Vì thế đảo Chàm vốn dĩ là đất linh nhưng đất vùng này còn là tụ điểm địa linh ít nơi bì được. Cũng có người nói vùng đất Bãi Chồng là trái tim của cả hòn Biền, hòn Lao nên mọi hoạt động ở đây phải cẩn trọng lắm mới có Cuối cùng tốt.
Đã có một thời bọn tàu ô người Tàu thường chọn nơi Bãi Chồng làm nơi giấu tàu để lùng cướp, trấn lột những thương gia chân chính đến với cảng Hội An nên bãi cát gần Đá Chồng còn có tên Bãi Tàu. Nhưng có điều lạ là những tàu của bọn người làm điều phi nghĩa khi đậu ở đây sau thời gian ấy ra biển thường gặp nạn, không sóng lớn đánh vỡ tàu thì cột buồm cũng bị bẻ gãy, ít gặp bình an.
Với người lương thiện thì lại hay gặp may. Ai có lòng trước khi ra biển mà lên thắp hương lạy lục sẽ dễ trúng lớn. Cá ở đâu không biết cứ về bơi hàng đàn quanh ghe để mọi người chỉ việc khoắng vợt xuống hớt lên. Chuyện xưa kể rằng ông Trùm Cải ở Bãi Làng có đứa nử tử mới đẻ được hơn năm nhưng hai chân cứ bắt chéo nhau không dứng lên được mới sai vợ bồng đến đây neo ghe ngủ qua đêm , một lòng cầu khẩn thề nguyền. Gần sáng bỗng một ông già râu tóc bạc phơ tay cầm cái gậy ngọc Như Ý đến gõ gõ vào chân con bé nói cha mày là Trùm , có lần làm ác mới đẻ ra mày khuyết tật, nay biết hối muốn làm điều lành, một lời cầu khẩn nên ta giúp đây, dậy mau, dậy mau, nói rồi biến mất. Mẫu thân con sững sờ trở dậy thấy chân con bé lành lặn không ngờ. Từ đấy không mấy ai dám làm ác ở Bãi Làng và ông Trùm Cải thì một lòng làm việc thiện, nghe nói sau này nhân chuyến du hành của một vị quan trong triều đến đảo qua tiếp kiến, lại nghe nhân dân một lòng khen ngợi nên thấy mến yêu bèn đưa về kinh cho làm chức lớn. Chốc chốc sau thời gian ấy , ông Trùm Cải vẫn đưa thê tử về thăm đảo và cho tiền giúp nhiều người nghèo vượt qua cơn khó. Về sau nghe đồn ông Trùm chết già ở kinh còn nử tử lớn lên lừng danh trông thích nhìn và được làm dâu nhà quyền quý sung sướng cả đời.
Lại cũng hay tục truyền rằng vùng này linh lắm. Ai có bồ, có chồng, vợ bị tệ bạc , hoặc chẳng gặp may chuyện đôi lứa trong đời , cứ đến đây thì thầm nguyện ước là qua vận rủi , còn nếu không , cũng thoả được niềm ưu tư để thế cuộc xuôi chèo mát mái.
Truyện tích về Bãi Chồng ở đảo Chàm qua nhiều người truyền xa suốt Quảng Ngãi , Bình Định đều biết. Cũng có khi được thêu dệt thêm nhiều tình tiết đau lòng đầy cảm thương nhưng đều có hậu. Cũng lại có chuyện kể rằng sau khi chết , chàng trai và cả cô gái được Ngọc Hoàng cho diện kiến để thử lòng bằng cách hỏi ước vọng muốn được sinh vào nhà quyền quý cao sang hay muốn đầu thai trở lại làm vợ chồng để thỏa ước nguyện base , dù có phải sống nghèo. Trong hai chỉ được quyền chọn một. Cả hai đều nhất quyết xin được sống với nhau cho trọn thề nguyền xưa , dù có phải bần hàn. Rồi Ngọc Hoàng cũng không nỡ nên đã cho họ tái sinh trở nên cặp thất gia vừa ngh vừa nức danh yêu thương nhau hết mực , nghe nói là cặp vợ chồng mực thước số một trên thế gian này. Mỗi khi được nghe kể Quần chúng đều chép miệng ao ước , phải như mình được một góc của họ và cố tìm dịp để vượt sóng nước đến với Bãi Chồng , Đá Chồng và đảo Chàm đầy ắp những truyền thuyết.
Chùa Hải Tạng
Chùa cổ Hải Tạng - đảo Chàm là công trình cấu trúc đạo đạo đức thờ Phật kết hợp thờ thần linh nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của ngư dân trên đảo đảo Chàm nói riêng và cho thương thuyền các nước ghé vào hành lễ cúng kính tín ngưỡng Phật giáo với mong mỏi được phù trì trên con đường làm ăn , buôn bán của họ.
Chùa được xây dừng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt bầu cách nơi này khoản 200m về phía bắc vì do bão làm hư hại nặng nề , để thuận tiện cho các tín đồ thiên chúa giáo đến hành lễ Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt đàn cách nơi này khoảng 200m về hướng đông bắc , sau vì do bão làm hư hại nặng và để tiện lợi cho các tín đồ thiên chúa giáo đến hành lễ nên vào năm Tự Đức nguyên niên ( 1848 ) Chùa được dời về vịt cỏ ngày nay và nối tiếp được tôn tạo khang trang hơn.
Chùa ở vào thế phong thủy lý tưởng , tọa lạc sát chân núi phía Tây của Hòn Lao thuộc đảo Chàm , lưng tựa núi vững chãi , mặt tiền xoay theo hướng Tây – Tây Nam nhìn thẳng vào núi Bà Mộc như thể hòn xôi án ngữ. Đây là hướng nhìn lý tưởng , bởi có sự thoáng khí , tiền hậu , tả hữu phân minh. Ngay dưới chân là đồng đất , khu dân cư và mờ xa về lục địa là thành thị cổ Hội An. Phía Nam có khoảng trống gió lùa trải dài qua Rừng Cấm ( nay là Xóm Cấm ) đưa hơi nước từ Hòn Nhờn lướt qua trước mặt thổi lên khu dốc Chùa. Theo truyền thuyết , dĩ vãng khu này rừng rậm có nhiều trăn , rắn độc. Bởi thế , để an toàn , tường thành chở che xung quanh chùa được xây bằng đá , cổng tam quan phía trước gồm 3 lối vào , tam quan tạo dáng vòm , mái lợp ngói âm dương và đắp nhiều con giống. Hết thảy tam quan cao 5m , rộng nhất 1 , 5m , dài 6m. Kề ngay đấy là 4 trụ biểu , trên chóp trụ có khối hình hoa sen cánh lật… Dù thiên nhiên hà khắc , lại phải đương đầu với nhiều trận cuồng phong hàng trăm năm qua nhưng đến nay , công trình chính vẫn vững vàng , bề thế. Tuy nhà Tây đã bị sập hoàn toàn , nhà Đông còn lại phần cấu trúc chính nhưng tuốt di tích vẫn toát lên vẻ hào sảng oai nghiêm hiếm thấy ở các di tích khác. Chính điện lợp ngói âm dương , bờ nóc , bờ hồi đắp nổi nhiều đường nét uốn lượn mềm mại, uyển chuyển tạo cảm giác nhẹ nhàng.
Lùi vào mái hiên khoảng 2,5m là hệ thống cửa ( thường khép kín), thượng song hạ bản , gồm 3 bộ , mỗi bộ 4 cánh ngăn không gian bên ngoài với không gian nội thất. Hết thảy nếp nhà chính này có hệ vì kèo phân bố kiểu “chồng rường giả thủ” chia làm 3 lòng. Việc mở rộng diện tích ở đây được sử dụng thủ pháp gia tăng lòng nhà bằng cách tăng cường hệ liên kết các cây rường, cột cái, cột quân và giả thủ trong thế đỡ thẳng lên đòn tay ( hoành ), lòng 3 của mái trước được ngăn cách bởi hệ thống cửa làm nên mái hiên. Với lối kiến trúc này, cộng với liên kết ngang gồm 4 vì ( vài ) chia làm 3 gian, tạo cho không gian nội thất của chùa thoáng khí, vừa có chiều cao, vừa có chiều sâu và mở rộng.
Nội thất chùa lộng lẫy nhờ hệ thống giao thông hoành phi , câu đối sơn son thếp vàng , uy nghiêm , lớp lang không thực thiêng liêng nhờ hệ thống tượng thờ khổng lồ trên những bàn hương án tả hữu , trước sau như những mạch nối tiếp huyền bí thẳm sâu trong quang cảnh đường bệ đầy màu sắc. Nổi bật là bộ Tam thế Phật bằng hợp chất gồm 3 tượng. Kế đến là tượng Thích Ca ngồi trên đài sen…
Chùa có nhiều truyền thuyết nhưng cư dân ở đây vẫn tâm đắc nhất câu chuyện về việc xây chùa. Tục truyền các cây cột được làm từ ngoài Bắc đem về làm một chùa nào đó trong Nam nhưng khi về đến đảo Chàm vì trời tối nên phải neo ghe nghỉ lại. Sáng ra , ghe kéo neo đi tiếp , nhưng thật lạ thường , biển bỗng dưng sóng dậy , ghe cứ xà quần , tới lui lòng vòng không đi ra khỏi Lao. Sau có người trong đoàn lên cúng xin keo mới biết dàn cột này phải để lại dựng chùa cho đảo Chàm không được đem đi. Bởi thế chùa dựng lên lấy tên là Hải Tạng. Hải là biển , Tạng là kinh , ý nói Chùa là nơi tụ họp kinh tạng minh mông như biển. Một ý khác là Kinh Tạng của Nhà Phật đây được hội tụ từ mọi con đường trên biển.
Chợ Tân Hiệp Phiên chợ sớm trên đảo đảo Chàm
Đến du lịch cù lao Chàm , du khách chẳng thể không ghé qua Chợ Tân Hiệp ( nhiều khách du lịch làm gọi là Chợ cù lao Chàm ). Chợ Tân Hiệp bán các đặc sản rừng , biển và quà lưu niệm , Chợ Tân Hiệp nằm ngay bên trong chân cầu cảng du lịch , kề bên bến cá Bãi Làng. Ý rằng “chợ” nhưng lại thiếu hẳn những âm thanh ồn ào việc quen thuộc. Chỉ có những Dưới chân chuyển di rất chậm , để ngắm nghía , để sờ nắm và để ăn giá với giọng vừa đủ nghe. Ví như muốn , khách phương xa cũng có khả năng ướm thử chuỗi hạt làm từ vỏ sò , thử hơi với chiếc tù ốc vỏ ốc hoặc giải nhiệt miễn phí với một cốc nước lá lao thơm nức , ngọt lịm…
Đảo Yến
đảo Chàm là nơi độc nhất vô nhị của tỉnh Quảng Nam có loài chim Yến hàng - Collocalia Fuciphaga Genmaini Oustalet, thuộc phân giống Yến hông xám ( Swiftlets ), giống Collocalia, họ Apodidac, bộ Yến Apdiformes. Chim Yến có vóc dáng chỉ nhỏ bằng chim sẻ, hông và bụng màu xám , tất cả thân thể nâu đen; cánh dài ( 115-125mm ), vút nhọn, bay rất khoẻ, đuôi ngắn, chẻ đôi; mỏ ngắn, dẹp, có thể há rất rộng.
Hàng năm, vào cuối tháng 11 âm lịch, yến bắt đầu làm tổ theo một cách rất độc đáo: yến nhả nước dãi thành những dãi trắng lên những vách đá cheo leo của các hang động trên đảo. Dãi yến mới nhả ra có màu trắng phớt hồng, gặp gió quánh lại, chuyển thành màu trắng đục.
Tổ chim yến thường được làm gọi là yến sào hay tai yến. Yến đẻ trứng , ấp trứng và nuôi cho đến khi chim con đủ sức tự bay đi kiếm mồi. Tổ yến có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, chiếm từ 36-52% protein và là một nguồn dược chất rất quý. Tổ yến giúp tăng sức để kháng cho thân hình, bổ huyết khí, tráng dương, yên ổn tâm thần, chống lão hoá, làm đẹp nước da và có xác xuất ngăn ngừa, thậm chí chữa được nhiều loại bệnh khó chữa như lao phổi, hen suyễn, viêm xương...Chính vì vậy, yến sào là loại hàng hoá hiếm quý, có giá trên thịt từ xưa đến nay.
Ở Hội An , một ông lão họ Trần ngẫu nhiên phát xuất hiện tổ yến sau thời gian ấy tổ chức khai khẩn và nộp thuế. Vì thế , các chúa Nguyễn ( từ thế kỷ 17 ) đã cho lập “Đội Thanh Châu”, thực chất là giao cho dân làng Thanh Châu ( Hội An ) khai thác yến sào ở vùng đảo đảo Chàm và nộp thuế hàng năm cho quốc gia. Sau này , mở rộng vào các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa.
Khai khẩn yến sào phải leo lên các vách đá cheo leo, hiểm trở, bên dưới là mặt nước biển ăn sâu vào hang sâu, nếu sơ suất, người thợ khai khẩn khó an toàn tính mạng.
Ở đảo Chàm, chim yến thường làm tổ trong các hang ở Hòn Khô (mẹ), Hòn Lao , hòn Tai... Việc khai thác yến sào ở Hội An hiện nay do Đội khai khẩn Yến, trực thuộc UBND Thị xã phụ trách. Mỗi năm, khai thác 2 kỳ ( vào tháng 4 và tháng 8 dương lịch ).
Miếu tổ nghề Yến
Miếu tổ nghề Yến nằm ở Bãi Hương - Hòn Lao - cù lao Chàm. Miếu Tổ nghề Yến được xây dựng có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết vào khoảng đầu thế kỷ 19 để thờ Tổ nghề Yến và Các ngài thần Ngăn giữ nghề Yên. Hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch , cư dân và những người làm nghề khai thác yến tổ chức cúng rất linh đình để chuẩn bị cho mùa vụ khai khẩn mới
Trên bàn thờ , ngoài các bài vị của những bậc tiền bối khai sáng nghề yến sào là các ông thần liên tưởng đến sông biển. Trên tường bên hữu có tấm bia đá ghi công đức của các chư phái tộc và ngợi ca vẻ núi kỳ vĩ của cù lao Chàm.
6. Các món ăn ngon ở cù lao Chàm
Mực một nắng
Phơi mực một nắng ( Ảnh - Nova 224 )
Mực một nắng cù lao Chàm khá đa dạng với nhiều loại: mực lá , mực ống , mực tuộc , mực ghim... Nhưng chỉ có mực ống mới chế biến được món mực một nắng ngon. Người ta chọn những con mực vừa mang từ biển về hãy còn tươi rói , sau thời gian ấy chỉ phơi độc nhất một lần nắng giòn. Thật ra thao tác phơi chỉ là quá trình rút bớt nước cho bay bớt mùi tanh, mực còn ở dạng tái nên khi thưởng thức vẫn cảm nhận được độ tươi ngon của mực nhưng thấy cả hương vị của mực khô. Tuy nhiên, để mực một nắng ngon, người phơi cũng phải đảm bảo kỹ thuật, sao cho mực phơi rồi thân ngoài đã ráo hẳn nhưng bên trong thịt Vẫn tươi rói.
Mực một nắng nướng tại chỗ được du khách rất ưa thích
Thường mực một nắng được khách du lịch chọn mua và nướng tại chỗ , thưởng thức ngay trên bãi biển đảo Chàm lồng lộng gió. Mực một nắng tuy chế biến không khó nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, phải nướng kỹ trên lửa than Khi mực chuyển sang màu vàng, mùi thơm bốc lên nưng nức hai cánh mũi là lúc mực vừa chín tới. Món này thường chấm với tương ớt cũng giống như mực khô nướng. Khi ăn, miếng mực ngọt ngào, mềm mềm, thơm lừng , hòa quyện với vị cay nồng của tương ớt. Mùa câu mực ở cù lao Chàm diễn ra từ tháng 2-5 âm lịch nhưng đặc sản mực một nắng thì bạn có thể mua quanh năm.
Cua đá
Cua Đá là một món ngon dân dã của xứ đảo đảo mà ai từng đến đây cũng mong được nếm thử. Cua có vị thịt ngọt , thanh chứ không thoảng vị tanh thường có của động vật miền biển. Do cua đá ăn các loại cỏ cây trên núi , nên thịt cua nồng một mùi cây rừng , thơm đến lạ.
Mỗi con cua đá trung bình chỉ lớn bằng nắm tay , và có màu sắc rất ấn tượng , mai và các chi màu nâu tím , phần bụng dưới ngả màu vàng ươm. Cua đá rất khoẻ , chạy nhanh , và thường chỉ lú đầu khỏi hang khi đêm xuống để đi ăn. Đó cũng là lúc những cư dân trên đảo đi săn cua đá. Một thợ săn cua cho biết , đi săn mà gặp 10 con , bắt được 4 - 5 con là nghề lắm rồi.
Cũng do cái “tội” nhanh chạy , dẻo dai , leo núi khoẻ , lại chuyên “ăn chay” nên thịt cua đá rất ngon , từ cái nước luộc cua đã đượm vị ngọt nhẹ , dịu thanh , thịt cua dai hơn hẳn cua biển , cua đồng , không chút mùi tanh. Nhưng cái độc chiêu nhất khi thưởng thức cua đá , đó là hương thơm kỳ lạ. Giở ngược cái mai cua , túm mấy chân xé một đường , con cua mới luộc còn sỏi đá , phả làn khói nhẹ từ phần thịt nằm dưới mai cua , xông lên mũi phảng phất đâu đấy chút hơi có mùi the , cay cay mùi dược thảo , đem lại cho người ăn cảm giác cứ như đang hít hơi của nồi xông giải cảm.
Dân đảo ai cũng nói cua đá là một vị thuốc, hỏi kỹ thuốc trị bịnh gì thì… không ai rõ, nhưng chỉ biết ăn vào vừa ngon vừa lạ miệng, tinh thần thấy sảng khoái

Kỳ thú lễ hội 'Huyền thoại thác Yang Bay'

Đảo cù lao chàm là một cụm đảo, về mặt hành thẳng thắn thuộc xã đảo Tân Hiệp, đô thị Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km và đã được UNESCO xác nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đảo cù lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Hòn Mồ, một trong 8 hòn đảo của Đảo cù lao Chàm
Trong quá khứ, cụm đảo Ciam pullo, Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La ... ( Cù lao Chàm ngày nay ) từng là địa chỉ được đánh dấu đậm nét trên bản đồ hàng hải quốc tế ven biển Đông, từng là điểm dừng chân việc quen thuộc của thương thuyền nhiều nước ở phương Đông cũng như phương Tây trên các tuyến hải trình dọc theo các con đường hương liệu, tơ lụa, gốm sứ trên biển.
Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, phương tiện đi lại trên biển rất thô sơ, những chuyến hải hành liên nhà nước thường phải kéo dài trong nhiều tháng. Cũng trong thời gian đó, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ được thiết lập. Con đường hàng hải nối giữa Trung Quốc và Ấn Độ đi từ phía Bắc Việt Nam, dọc theo bờ biển của bán đảo Đông Dương, qua bán đảo Mã Lai ở phần phía bắc và tới Kancipura ở miền Nam Ấn Độ. Một con đường khác không cắt ngang qua bán đảo, nhưng đi xuyên qua eo biển tới Malacca. Lúc này nhiều cảng thị hình thành trên bán đảo Đông Dương như: Phù Nam , Lâm Ấp... Chúng không chỉ là những trạm, những hải cảng quan trọng trên con đường hàng hải quốc tế, mà còn là trú sở và điểm thu mua nhiều sản vật quý dùng để xuất khẩu như: trầm hương, hồ tiêu, ngà voi, tơ lụa, đồi mồi... Trong đó Đảo cù lao Chàm là điểm tiền tiêu trên biển thuộc vương quốc Champa, nó là hiên nối giữa Trung Quốc với Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư, Ai Cập và các nước Châu Âu. Thành thử, Đảo Chàm có vịt xiêm xung yếu trong tuyến hàng hải khu vực ấn độ dương, là điểm dừng chân rất tiện lợi để thảo luận hàng hóa, tàng trữ lương thảo, nước ngọt của thương thuyền các nước trong cuộc hành trình đi đến các nhà nước khác trong khu vực Đông Nam Á và một số vùng lân cận.

Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XII, con đường tơ lụa, hương liệu và gốm sứ được hình thành, hoạt động hàng hải trên biển thái bình Dương rất tấp nập. Tàu buôn từ Địa Trung Hải đến Trung Quốc mang theo vàng bạc và kim khí khai khẩn được từ các mỏ Ba Tư và các vùng lân cận; cùng sao thủy và các đồ Trang điểm là những sản phẩm của Trung Đông sang các nước phương Đông và Trung Quốc bán buôn, sau đó họ mua lại đồ gia dụng, tơ lụa, gốm sứ, lâm hải sản từ các nước này về. Trên chặng đường dài đó, họ đã đi qua quần đảo Đảo cù lao Chàm, để đi sâu vào hải phận phía nam Trung Quốc và các hải cảng của Nhật.

Đặc biệt, cuối thế kỷ XV, các quốc gia ở phương Tây với nhiều đoàn thuyền đồ sộ ào ạt tràn sang phương Đông để tìm thịt, làm cho hoạt động thương mại trên biển của khu vực châu Á - thái hoà Dương trở thành sôi động hơn, tuần tự lôi cuốn các nước phương Đông tham gia vào thịt lĩnh vực và thế giới đang hình thành , Việt Nam là một trong những nước nằm bên con đường thương mại quốc tế. Vào thời điểm này ở đường trong, Vương quốc Champa suy tàn, người Việt đã làm chủ một vùng đất rộng lớn ở phía Nam. Dưới sự dẫn dắt của các chúa Nguyễn, người Việt kết nạp những thành tựu khai phá Chiêm cảng xưa của người Chăm và xây dựng Hội An trở nên một thành thị thương khẩu sầm uất, phát triển Dữ dội trong các thế kỷ XVII - XVIII. Cửa Đại Chiêm trở nên một trong những cảng thị thuận lợi để tàu thuyền quốc tế cập bến, trao đổi mua bán hàng hóa. Thương thuyền của các nước Nhật Bản , Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Malaixia, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... Tới Hội An buôn bán, thường phải qua trạm rà soát và thu thuế ở Đảo Chàm.
Đảo Chàm trở nên một thương khẩu sôi động ở khu vực Đông Nam Á trong nhiều thế kỷ và là điểm dừng chân của các thuyền buôn trong nước cũng như quốc tế. Nguồn hàng hóa sản vật phong phú của xứ Quảng cùng vịt bầu tiện lợi trong con đường tơ lụa trên biển của cửa Đại Chiêm và Đảo cù lao Chàm, cộng với chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn, đã nâng cao vai trò vùng đất Quảng Nam trong quá trình phát triển của xứ Đàng Trong.
2. Nên đi Cù lao Chàm vào thời điểm nào ?
Nên đi vào mùa hè để tận hưởng khí trời dễ chịu và hưởng cảm thụ giác được nhảy xuống làn nước mát lạnh của biển đảo Chàm
Đi vào ngày rằm hàng tháng để kết hợp ngắm phố cổ Hội An và thưởng thực đặc sản ốc vú nàng đảo Chàm
Lễ giỗ tổ nghề lấy yến ở đảo Chàm diễn ra vào 9-10/3 ( âm lịch )
hội lễ cầu ngư ở đảo Chàm diễn ra vào ngày 3-4/4 ( âm lịch )
3. Công cụ tới đảo Chàm
Bến tàu ở cù lao Chàm
Từ Hội An các bạn có 2 loại phương tiện để ra đảo Chàm là can và tàu chợ. Ví như lựa chọn can phạm thời gian sẽ chỉ mất khoảng 20' nhưng giá thành cao , tuyển trạch tàu chậm giá thành rẻ nhưng mất khoảng 2h để ra được đảo , tuy thế khi đi tàu chậm bạn sẽ có cảm giác ưa thích khi được linh đinh với từng con sóng , có thời gian để ngắm biển trời minh mông. Ca no thường đi từ bến tàu Cửa Đại , tàu chợ thường xuất phát ngay từ bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An , số telephone của tàu 0985686465 ( Bác Bốn )
tàu chợ đi ra cù lao Chàm phát xuất ngay tại bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An
Từ Hà Nội và Sài Gòn các bạn có xác xuất đi xe buýt giường nằm tới Hội An rồi từ đó tiếp tục chuyển di bằng thuyền gỗ hoặc canh ra với đảo Chàm. Ở đảo Chàm, bạn có thể thuê thuyền đi quanh đảo, đưa đi lặn ngắm hổ phách cho chủ động với kế hoạch của mình, không bị nước phụ thuộc như việc đặt tour đi trong ngày. Liên quan với các chủ nhà nghỉ để được hỗ trợ thuê thuyền hoặc liên hệ trực tiếp với Chú Cữ 01677874651
4. Khách sạn nhà nghỉ tại cù lao Chàm
Trên cù lao Chàm không có các khách sạn hay resort mà là các nhà nghỉ kiểu homestay nhưng rất thích với bất luận ai muốn khám phá hòn đảo xanh rất xinh này. Giá dịch vụ tại nhà dân khoảng 50k/1 người. Các bạn có khả năng liên tưởng với một số phôn dưới đây. ( Anh xưa nay một hướng dẫn viên du lịch tại đảo, nhà là quán cafe ở ngay cạnh Khu bảo tồn biển. Các bạn có xác xuất liên hệ với anh Nguyên để nhờ đặt vé canh ki na , đặt nhà nghỉ , thuê thuyền , thuê xe máy đi du lịch quanh đảo. Anh ấy rất nhiệt tình giúp rập và hỗ trợ các bạn)
5. Các địa điểm du lịch và hoạt động vui chơi ở cù lao Chàm
Các địa điểm du lịch ở đảo Chàm ( Nhấn vào ảnh để xem to hơn)
cù lao Chàm không phải là hòn đảo đặc biệt so với nhiều đảo gần bờ cũng như các khu dự trữ sinh quyển khác của Việt Nam. Cũng có bãi tắm thiên nhiên đẹp, phong cảnh hoang vu, hải sản phong phú... - Những lợi thế có khả năng bắt gặp ở bất kỳ hòn đảo du lịch nào, nhưng cái dấu ấn đặc sắc mà du khách bắt gặp ở đảo Chàm không phải là những lợi thế đó mà Ấy là cách khai khẩn những lợi thế.
Nhà bảo tàng biển cù lao Chàm
Nhà bảo tàng biển nằm ngay cạnh nhà đón tiếp khách khi tới đảo Chàm
Điểm dừng chân đầu tiên khi thuyền cập bến tàu đảo Chàm Ấy là nhà bảo tàng biển. Tuy nhỏ nhưng khi đến đây và được nghe các hướng dẫn viên trên đảo thuyết trình , dẫn dắt người nghe từ lịch sử hình thành , các phong tương truyền thống , lễ hội cho đến những phong phú của cù lao Chàm sẽ khiến bạn đi từ kinh ngạc này đến ngạc nhiên khác.
Hệ thống các bãi biển của cù lao Chàm
Bãi Ông
Các bãi biển ở đây vốn thiên nhiên tạo vật đã đẹp và người dân và chính quyền địa phương đã phát động các phong trào giữ giàng môi trường nên các bãi biển đảo Chàm được giữ giàng sạch ưu tú, khách du lịch vì thế ngày một kéo về đây đông hơn, các dịch vụ du lịch cũng hoàn thiện hơn.
Bãi Xếp là nơi du khách thường dừng lại lặn ngắm ngân
Dọc theo bờ biển từ Tây Bắc xuống Đông Nam của Hòn Lao , Có các bãi biển như: Bãi Bắc ( gồm 4 bãi nhỏ ) , Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Xếp ( gồm 3 Bãi nhỏ ) , Bãi Chồng , Bãi Bìm , Bãi Hương. Các bãi biển có chiều dài từ 100m ( Bãi Bắc ) đến 700m ( Bãi Hương ); chiều rộng phổ quát là 20m.
Toàn cảnh Bãi Làng nhìn từ trên núi
Bãi Bìm
Các bãi biển thoải với nền cát trắng mịn , sạch , nằm xen giữa các mỏm đá nhô ra tạo nên sự sản vật phong phú của địa tầng địa mạo. Ở Bãi Bắc, Bãi Chồng du khách sẽ gặp nhiều khối đá lớn được mài tròn tự nhiên hoặc nằm chồng lên nhau , tạo nên các hình ảnh gợi cảm mang tính biểu trưng sâu sắc.
Toàn cảnh Bãi Chồng
Tại Bãi Bắc , trên nền đám hỏi mòn hiện ra nhiều hang thiên nhiên. Tại Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Hương do các thềm cát mở mang tạo thành bãi cát rộng từ 40 - 50m. Dân cư khai khẩn những dải đất bồi hẹp , tạo thành một số ruộng bậc thang sản xuất lương thực , thiệt phẩm. Như thế nhờ tự nhiên tạo vật và nhân tạo nên đảo Chàm chứa nhiều cảnh đẹp tuy bình dị hoang vu nhưng đầy gợi cảm.
Bãi Hương
Biển đảo Chàm trong xanh có thể nhìn thấy đáy sâu hàng chục mét. Làn nước trong vắt ấy như mời gọi ta xuống tắm , rồi phơi mình trên những bãi cát mịn tưng sạch sẽ.
Lặn ngắm lưu li
Là một khu bảo tàng biển nức danh bởi sự đa dạng sinh học Hoa cúc loài quý hiếm , tuy nhiên những năm gần đây với lượng khách du lịch đến cù lao Chàm càng ngày càng tăng thì sức ép khai thác trên vùng rạn gồm kim là rất lớn làm cho rạn mã não bình phục chậm có tác động đến một điều gì đó cực kỳ nghiêm trọng cho hệ sinh cảnh biển tại đảo Chàm. Hầu hết các tour du lịch cù lao Chàm đều có các hoạt động lặn ngắm ngân
Giếng cổ Chăm ( còn làm gọi là Giếng Xóm Cấm )
Giếng Xóm Cấm nằm tại ngã ba con đường bêtông của khu dân cư xóm Cấm , cách 500m về phía Đông Bắc là di tích Tiền Sa Huỳnh Bãi Ông , cách di tích khảo cổ Bãi Làng 300m về hướng Tây Nam. Cấu trúc của giếng mang đặc thù giống với nhiều kiểu giếng Chăm khác ở Hội An.
Giếng có kiểu hình ống tròn , thành giếng hình tròn , nền giếng hình vuông , ở mỗi góc có một trụ vuông. Diện tích khuôn viên giếng khoảng 15m2, đường kính miệng giếng khoảng 1,2m. Lòng giếng xây gạch tô vữa vôi, được xây theo kiểu “vành khăn." Độ sâu từ miệng giếng đến đáy giếng khoảng 5m. Tuy nhiên , trải qua quá trình sử dụng hàng trăm năm , người dân nơi đây đã cải tạo lại nền giếng và xây thêm gạch vữa ximăng lên thành giếng nên đã phần nào làm chuyển biến cấu trúc.
Người dân tại thôn Bãi Làng cho biết Giếng Xóm Cấm là nguồn cung cấp nước rất nhiều cho người dân trong lĩnh vực. Điểm đặc biệt là nước của giếng này không bao giờ cạn , cho dù là vào mùa khô kiệt nhất.
Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây thì nước Giếng Xóm Cấm cực kỳ hiệu nghiệm khi giải chứng bệnh say sóng. Ví như người nào đi từ đất liền ra đảo chàm bị say sóng thì lấy nước Giếng Xóm Cấm nấu với lá rừng của đảo Chàm ( chỉ người dân xứ sở mới nhận biết và thường hái loại lá này ) thì uống vào là hết say sóng.
Mặc dù chưa rõ ràng được xác thực niên đại đồ đồng thau của giếng , song qua so sánh đối chiếu với các kiểu giếng Chăm khác ở Hội An và vùng lân cận cũng như thông cáo từ các nguồn tư liệu lịch sử cổ thì các nhà chuyên trị ý rằng Giếng Xóm Cấm có xác xuất đã được xây dựng cách đây khoảng trên 200 năm.
Bãi Đá Chồng
Chuyện kể rằng vào thời tun hút, đã lâu lắm rồi, thuở ông bà còn để chỏm, ở đất liền trù mật dân dã sống bình an. Như mọi nhà, dưới mái tranh êm ả có cặp vợ chồng nghèo. Do cả hai bên có chồng đều mất sớm vì đi biển gặp bão, những người vợ trẻ của họ ráng cắn răng chịu khổ nỗi cô đơn chồng chết để nuôi con khôn lớn. Bởi cùng tình cảnh nên cặp đôi trai gái đến với nhau thiên nhiên và thề yêu nhau đến trọn đời. Chàng trai có bộ ngực đô con và sức khoẻ vượt trội hơn hẳn mọi trai làng. Cô gái có nước da trắng như trứng gà mới bóc. Khuôn mặt bầu bĩnh cùng mái tóc dài thon thả rập rình làm tôn thêm vẻ yêu kiều của nụ cười luôn tươi rói trên môi. Vẻ đẹp của nàng được người trong làng từ già tới trẻ truyền tai nhau không chỉ vang xa hàng vạn dặm trên lục địa mà còn theo từng con sóng nước truyền đến tai Thần Biển. Ngày cưới của hai người được ấn định vào ngày đẹp trời. Cả làng đều mong cho họ răng long đầu bạc hạnh phúc trăm năm. Rồi ngày đứng trước bàn độc tổ tiên một nhà cũng đã đến, hai người nguyện ước mãi mãi không rời nhau. Bỗng đâu trời nổi giông gió, cát bụi mờ mịt Quần chúng không thấy mặt nhau. Đất dưới chân rung chuyển như muốn lún sụp thành vực thẳm. Trong bóng bão cát nhập nhoà hiện rõ gương mặt hung hãn của thần biển cùng ngôn ngữ chói lói lỗ tai: Ai có gan tìm được nàng ta sẽ trả. Cô gái bị cướp đi trong tiếng gầm rú ghê người. Sau phút hoảng loạn Quần chúng cùng nhận ra rằng vì say mê dung nhan nên Thần Biển đến cướp cô gái về hầu hạ trong Thủy cung.
Không dưng mất nàng, lòng chàng trai đau như muối xát, giữ thề nguyền sắt son xưa, được sự giúp sức của dân làng, chàng trai nín nhịn nỗi đau chia tay hai người mẹ thân thương cố chí đi tìm cứu vợ, thề rằng không gặp không về, nếu đuối sức ở đâu thì chết tại đấy. Một mình một ghe, lương khô lót bụng , lấy gió làm bạn, lấy mưa nắng che mình. Trải bao có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn, thử thách rồi một ngày kia, chàng bị bão tố nổi lên đánh bạt vào bãi đá một hòn đảo. Nhân lực có hạn, đói khổ và nỗi đau mất vợ cùng cùng sự mất hết hi vọng đơn chiếc xúm lại quật ngã chàng. Tây sáng, ánh dương dần chói chang cả lãnh hải đẹp. Ráng đứng lên hướng nhìn đất liền, tạ lỗi với dân làng về niềm tin mà họ đã gửi gắm, chàng đứng sững trút hơi thở cuối cùng. Dân trên đảo gần đấy nghe tiếng kêu ai oán kế sau tiếng sét rung trời. Thì ra mến trọng lòng thuỷ chung và sự chịu đựng thử thách của chàng, Ngọc chúa thượng Đế đã cho chàng hoá đá để mãi nhìn về quê hương trong khắc khoải đau thương vì lời thề chưa trọn. Về sau lâu dần, hình chàng được mưa gió ăn mòn thành hòn đá chồng lên nhau như hình người bé nhỏ, đang trong cơn đau khổ tuyệt vọng nên được làm gọi là Đá Chồng, bãi đá có hòn đá ấy cũng được gọi là Bãi Đá Chồng. Cũng có người nói do hòn đá nhỏ chồng lên hòn đá lớn nên gọi Đá Chồng.
Ông bà xưa kể rằng mấy thày phong thuỷ người Tàu nói nếu đứng từ đây nhìn về Hội An thấy Cửa Đại và Hòn núi Chúa ở Khu đất thánh Mỹ Sơn là một đường thẳng. Đấy là hướng phong thuỷ hợp cung Theo tập quán xưa như là sự định đoạt hài hoà của Trời và Đất. Vì thế cù lao Chàm vốn là đất linh nhưng đất vùng này còn là tụ điểm địa linh ít nơi bì được. Cũng có người nói vùng đất Bãi Chồng là trái tim của cả hòn Biền, hòn Lao nên mọi hoạt động ở đây phải cẩn thận lắm mới có kết quả tốt.
Đã có một thời bọn cướp biển người Tàu thường chọn nơi Bãi Chồng làm nơi giấu tàu để lùng cướp, trấn lột những thương nhân chân chính đến với cảng Hội An nên bãi cát gần Đá Chồng còn có tên Bãi Tàu. Nhưng có điều lạ là những tàu của bọn người làm điều phi nghĩa khi đậu ở đây sau đó ra biển thường gặp nạn, không sóng lớn đánh vỡ tàu thì cột buồm cũng bị bẻ gãy, ít gặp bình an.
Với người lương thiện thì lại hay gặp may. Ai có lòng trước khi ra biển mà lên thắp hương lạy lục sẽ dễ trúng lớn. Cá ở đâu không biết cứ về bơi hàng đàn quanh ghe để công chúng chỉ việc khoắng vợt xuống hớt lên. Chuyện xưa kể rằng ông Trùm Cải ở Bãi Làng có đứa nử tử mới đẻ được hơn năm nhưng hai chân cứ bắt chéo nhau không dứng lên được mới sai vợ bồng đến đây neo ghe ngủ qua đêm , một lòng một dạ khẩn cầu lời thề. Gần sáng bỗng một ông già râu tóc bạc phơ tay cầm cái gậy ngọc Như Ý đến gõ gõ vào chân con bé nói cha mày là Trùm , có lần làm ác mới đẻ ra mày khuyết tật, nay biết hối muốn làm điều lành, một lời cầu khẩn nên ta giúp đây, dậy mau, dậy mau, nói rồi biến mất. Mẹ con sững sờ trở dậy thấy chân con bé lành lẽ không ngờ. Từ đấy không mấy ai dám làm ác ở Bãi Làng và ông Trùm Cải thì một lòng một dạ làm việc thiện, nghe nói sau này nhân chuyến du hành của một vị quan trong triều đến đảo qua gặp mặt, lại nghe dân chúng một lòng một dạ khen ngợi nên thấy yêu mến bèn đưa về kinh cho làm chức lớn. Thỉnh thoảng sau thời gian ấy , ông Trùm Cải vẫn đưa thê tử về thăm đảo và cho tiền giúp nhiều người nghèo vượt qua cơn khó. Về sau nghe đồn ông Trùm chết già ở kinh còn con gái lớn lên nức danh xinh đẹp và được làm dâu nhà quyền quý sung sướng cả đời.
Lại cũng hay tương truyền rằng vùng này linh lắm. Ai có ý trung nhân, có chồng, vợ bị tệ , hoặc chẳng gặp may chuyện đôi lứa trong đời , cứ đến đây thầm thĩ ước nguyện là qua vận rủi , còn nếu không , cũng thoả được niềm ưu tư để cuộc đời xuôi chèo mát mái.
Truyện tích về Bãi Chồng ở cù lao Chàm qua nhiều người truyền xa suốt Quảng Ngãi , Bình Định đều biết. Cũng có khi được tô vẽ thêm nhiều tình tiết đau lòng đầy cảm thương nhưng đều có hậu. Cũng lại có chuyện kể rằng sau khi chết , chàng trai và cả cô gái được Ngọc Hoàng cho diện kiến để thử lòng bằng cách hỏi nguyện vọng muốn được sinh vào nhà quyền quý cao sang hay muốn đầu thai trở lại làm phu phụ để thỏa nguyện ước base , dù cho phải sống nghèo. Trong hai chỉ được quyền chọn một. Cả hai đều nhất quyết xin được sống với nhau cho trọn lời thề xưa , dù có phải bần hàn. Rồi Ngọc Hoàng cũng không nỡ nên đã cho họ tái sinh trở nên cặp vợ chồng vừa giàu có vừa nổi tiếng thương yêu nhau rất mực , nghe đồn là cặp vợ chồng mẫu mực số một trên nhân gian này. Mỗi khi được nghe kể Quần chúng đều chép miệng ao ước , phải như mình được một góc của họ và cố tìm dịp để vượt sóng nước đến với Bãi Chồng , Đá Chồng và đảo Chàm đầy ắp những truyền thuyết.
Chùa Hải Tạng
Chùa cổ Hải Tạng - cù lao Chàm là công trình kiến trúc tôn giáo tư tưởng thờ Phật kết hợp thờ thần thánh nhằm đáp ứng nhu cầu tập quán của ngư dân trên đảo cù lao Chàm nói riêng và cho thương thuyền các nước ghé vào hành lễ cúng kính đạo đức Phật giáo với mong mỏi được phù trợ trên con đường làm ăn , buôn bán của họ.
Chùa được xây dừng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt bầu cách nơi này khoản 200m về phía bắc vì do bão làm hư hại nặng nề , để thuận lợi cho các tín đồ đến hành lễ Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt cỏ cách nơi này khoảng 200m về hướng đông bắc , sau vì do bão làm hư hại nặng và để tiện lợi cho các tín đồ thiên chúa giáo đến hành lễ nên vào năm Tự Đức nguyên niên ( 1848 ) Chùa được dời về vịt bầu ngày nay và tiếp tục được tu tạo khang trang hơn.
Chùa ở vào thế phong thủy lý tưởng , tọa lạc sát chân núi phía Tây của Hòn Lao thuộc đảo Chàm , lưng tựa núi vững chãi , mặt tiền xoay theo hướng Tây – Tây Nam nhìn thẳng vào núi Bà Mộc như thể hòn xôi án ngữ. Đây là hướng nhìn lý tưởng , bởi có sự thoáng khí , tiền hậu , tả hữu rành mạch. Ngay dưới chân là đồng ruộng , khu dân cư và mờ xa về đất liền là thành phố cổ Hội An. Phía Nam có khoảng trống gió lùa trải dài qua Rừng Cấm ( nay là Xóm Cấm ) đưa hơi nước từ Hòn Nhờn lướt qua trước mặt thổi lên khu dốc Chùa. Theo truyền thuyết , quá khứ khu này rừng rậm có nhiều trăn , rắn độc. Bởi thế , để không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro , tường thành đùm bọc xung quanh chùa được xây bằng đá , cổng tam quan phía trước gồm 3 lối vào , tam quan tạo dáng vòm , mái lợp ngói âm dương và đắp nhiều con giống. Toàn bộ tam quan cao 5m , rộng nhất 1 , 5m , dài 6m. Kề ngay đấy là 4 trụ biểu , trên chóp trụ có khối hình hoa sen cánh lật… Dù thiên nhiên hà khắc , lại phải đương với nhiều trận cuồng phong hàng trăm năm qua nhưng đến nay , công trình chính vẫn vững vàng , bề thế. Tuy nhà Tây đã bị sập không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả , nhà Đông còn lại phần cấu trúc chính nhưng tuốt di tích vẫn toát lên vẻ hào sảng uy nghiêm hiếm thấy ở các di tích khác. Chính điện lợp ngói âm dương , bờ nóc , bờ hồi đắp nổi nhiều đường nét uốn lượn mềm mại, uyển chuyển tạo cảm giác nhẹ nhàng.
Lùi vào mái hiên khoảng 2,5m là hệ thống giao thông cửa ( thường khép kín), thượng song hạ bản , gồm 3 bộ , mỗi bộ 4 cánh ngăn không gian bên ngoài với không gian nội thất. Tuốt nếp nhà chính này có hệ vì kèo phân bố kiểu “chồng rường giả thủ” chia làm 3 lòng. Việc mở mang diện tích ở đây được sử dụng phương pháp Thêm lên lòng nhà bằng cách tăng cường hệ liên kết các cây rường, cột cái, cột quân và giả thủ trong thế đỡ thẳng lên đòn tay ( hoành ), lòng 3 của mái trước được ngăn cách bởi hệ thống cửa làm nên mái hiên. Với lối cấu trúc này, cộng với kết liên ngang gồm 4 vì ( vài ) chia làm 3 gian, tạo cho không gian nội thất của chùa thông thoáng, vừa có chiều cao, vừa có chiều sâu và mở rộng.
Nội thất chùa lộng lẫy nhờ hệ thống hoành phi , câu đối sơn son thếp vàng , uy nghiêm , trình tự mơ hồ thiêng nhờ hệ thống tượng thờ đồ sộ trên những bàn hương án tả hữu , trước sau như những mạch nối tiếp huyền bí thẳm sâu trong quang cảnh oai vệ đầy màu sắc. Nổi bật là bộ Tam thế Phật bằng hợp chất gồm 3 tượng. Kế đến là tượng Thích Ca ngồi trên đài sen…
Chùa có nhiều truyền thuyết nhưng cư dân ở đây vẫn tâm đầu ý hợp nhất câu chuyện về việc xây chùa. Tục truyền các cây cột được làm từ ngoài Bắc đem về làm một chùa nào đó trong Nam nhưng khi về đến đảo Chàm vì trời tối nên phải neo ghe nghỉ lại. Sáng ra , ghe kéo neo đi tiếp , nhưng thật lạ thường , biển tự dưng sóng dậy , ghe cứ xà quần , tới lui lòng vòng không đi ra khỏi Lao. Sau có người trong đoàn lên cúng xin keo mới biết dàn cột này phải để lại dựng chùa cho cù lao Chàm không được đem đi. Vì thế chùa dựng lên lấy tên là Hải Tạng. Hải là biển , Tạng là kinh , ý nói Chùa là nơi tụ họp kinh tạng minh mông như biển. Một ý khác là Kinh Tạng của Nhà Phật đây được giao hội từ mọi con đường trên biển.
Chợ Tân Hiệp Phiên chợ sớm trên đảo đảo Chàm
Đến du lịch đảo Chàm , du khách không thể không ghé qua Chợ Tân Hiệp ( nhiều khách du lịch làm gọi là Chợ cù lao Chàm ). Chợ Tân Hiệp bán các đặc sản rừng , biển và quà lưu niệm , Chợ Tân Hiệp nằm ngay bên trong chân cầu cảng du lịch , kề bên bến cá Bãi Làng. Cho rằng “chợ” nhưng lại thiếu hẳn những âm thanh ồn ã việc quen thuộc. Chỉ có những Dưới chân di chuyển rất chậm , để ngắm , để sờ nắm và để ăn giá với giọng vừa đủ nghe. Ví như muốn , khách phương xa cũng có thể ướm thử chuỗi hạt làm từ vỏ sò , thử hơi với chiếc tù và vỏ ốc hoặc giải nhiệt miễn phí với một cốc nước lá lao thơm lừng , ngọt lịm…
Đảo Yến
đảo Chàm là nơi độc nhất vô nhị của tỉnh Quảng Nam có loài chim Yến hàng - Collocalia Fuciphaga Genmaini Oustalet, thuộc phân giống Yến hông xám ( Swiftlets ), giống Collocalia, họ Apodidac, bộ Yến Apdiformes. Chim Yến có dáng vóc chỉ nhỏ bằng chim sẻ, hông và bụng màu xám , toàn thân nâu đen; cánh dài ( 115-125mm ), vút nhọn, bay rất khoẻ, đuôi ngắn, chẻ đôi; mỏ ngắn, dẹp, có khả năng há rất rộng.
Hàng năm, vào cuối tháng 11 âm lịch, yến bắt đầu làm tổ theo một cách rất độc đáo: yến nhả nước bọt thành những dãi trắng lên những vách đá cheo leo của các hang động trên đảo. Dãi yến mới nhả ra có màu trắng phớt hồng, gặp gió quánh lại, chuyển thành màu trắng đục.
Tổ chim yến thường được làm gọi là yến sào hay tai yến. Yến đẻ trứng , ấp trứng và nuôi cho đến khi chim con đủ sức tự bay đi kiếm mồi. Tổ yến có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, chiếm từ 36-52% protein và là một nguồn dược chất rất quý. Tổ yến giúp tăng sức để kháng cho thân thể, bổ khí huyết, tráng dương, ổn định thần kinh, chống lão hoá, làm đẹp nước da và có khả năng ngăn ngừa, thậm chí chữa được nhiều loại bệnh khó chữa như lao phổi, hen, viêm xương...Chính vì vậy, yến sào là loại hàng hoá hiếm quý, đắt giá trên thịt thà từ xưa đến nay.
Ở Hội An , một ông lão họ Trần tình cờ phát xuất hiện tổ yến sau đó tổ chức khai thác và nộp thuế. Vì thế , các chúa Nguyễn ( từ thế kỷ 17 ) đã cho lập “Đội Thanh Châu”, bản chất là giao cho dân làng Thanh Châu ( Hội An ) khai khẩn yến sào ở vùng đảo đảo Chàm và nộp thuế hàng năm cho nhà nước. Sau này , mở mang vào các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa.
Khai khẩn yến sào phải leo lên các vách đá chênh vênh, hiểm trở, bên dưới là mặt nước biển ăn sâu vào hang sâu, nếu sơ sểnh, người thợ khai thác khó an toàn tính mạng.
Ở đảo Chàm, chim yến thường làm tổ trong các hang ở Hòn Khô (mẹ), Hòn Lao , viên Tai... Việc khai khẩn yến sào ở Hội An hiện tại do Đội khai khẩn Yến, trực thuộc UBND Thị xã phụ trách. Mỗi năm, khai khẩn 2 kỳ ( vào tháng 4 và tháng 8 dương lịch ).
Miếu tổ nghề Yến
Miếu tổ nghề Yến nằm ở Bãi Hương - Hòn Lao - cù lao Chàm. Miếu Tổ nghề Yến được xây dựng có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết vào khoảng đầu thế kỷ 19 để thờ Tổ nghề Yến và Các ngài thần Ngăn giữ nghề Yên. Hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch , cư dân và những người làm nghề khai thác yến tổ chức cúng rất linh đình để Dự bị cho mùa vụ khai thác mới
Trên bàn thờ , ngoài các bài vị của những bậc tiền bối Mở đầu nghề yến sào là các ông thần liên hệ đến sông biển. Trên tường bên hữu có tấm bia đá ghi công đức của các chư phái tộc và ca ngợi vẻ núi kỳ vĩ của cù lao Chàm.
6. Các món ăn ngon ở đảo Chàm
Mực một nắng
Phơi mực một nắng ( Ảnh - Nova 224 )
Mực một nắng cù lao Chàm khá Đa chủng với nhiều loại: mực lá , mực ống , mực tuộc , mực ghim... Nhưng chỉ có mực ống mới chế biến được món mực một nắng ngon. Địa ngục ta chọn những con mực vừa mang từ biển về hãy còn tươi rói , sau thời gian ấy chỉ phơi độc nhất một lần nắng giòn. Thật ra thao tác phơi chỉ là quá trình rút bớt nước cho bay bớt mùi tanh, mực còn ở dạng tái nên khi thưởng thức vẫn cảm nhận được độ tươi ngon của mực nhưng thấy cả hương vị của mực khô. Tuy nhiên, để mực một nắng ngon, người phơi cũng phải đảm bảo kỹ thuật, sao cho mực phơi rồi thân ngoài đã ráo hẳn nhưng bên trong thịt vẫn còn tươi rói.
Mực một nắng nướng tại chỗ được du khách rất ưa thích
Thường mực một nắng được khách du lịch chọn mua và nướng tại chỗ , thưởng thức ngay trên bãi biển đảo Chàm lồng lộng gió. Mực một nắng tuy chế biến không khó nhưng đòi hỏi sự kĩ càng, phải nướng kỹ trên lửa than Khi mực chuyển sang màu vàng, mùi thơm bốc lên nưng nức hai cánh mũi là lúc mực vừa chín tới. Món này thường chấm với tương ớt cũng giống như mực khô nướng. Khi ăn, miếng mực ngọt ngào, mềm mềm, thơm phức , hòa quyện với vị cay nồng của tương ớt. Mùa câu mực ở cù lao Chàm diễn ra từ tháng 2-5 âm lịch nhưng đặc sản mực một nắng thì bạn có khả năng mua quanh năm.
Cua đá
Cua Đá là một món ngon dân quê của xứ đảo cù lao mà ai từng đến đây cũng mong được nếm thử. Cua có vị thịt ngọt , thanh chứ không phảng phất vị tanh thường thấy của động vật miền biển. Do cua đá ăn các loại cây cỏ trên núi , nên thịt cua nồng một mùi cây rừng , thơm đến lạ.
Mỗi con cua đá làng nhàng chỉ lớn bằng nắm tay , và có màu sắc rất ấn tượng , mai và các chi màu nâu tím , phần bụng dưới ngả màu vàng ươm. Cua đá rất khoẻ , chạy nhanh , và thường chỉ lú đầu khỏi hang khi đêm xuống để đi ăn. Đó cũng là lúc những cư dân trên đảo đi săn cua đá. Một thợ săn cua cho biết , đi săn mà gặp 10 con , bắt được 4 - 5 con là nghề lắm rồi.
Cũng do cái “tội” nhanh chạy , bền bỉ , leo núi khoẻ , lại chuyên “ăn chay” nên thịt cua đá rất ngon , từ cái nước luộc cua đã đượm vị ngọt nhẹ , dịu thanh , thịt cua dai hơn hẳn cua biển , cua đồng , không chút mùi tanh. Nhưng cái độc chiêu nhất khi thưởng thức cua đá , đó là hương thơm nổi bật lạ hay bất thường. Giở ngược cái mai cua , túm mấy chân xé một đường , con cua mới luộc còn hơi nóng , phả làn khói nhẹ từ phần thịt nằm dưới mai cua , xông lên mũi phảng phất đâu đấy chút hơi có mùi the , cay cay mùi dược thảo , đem lại cho người ăn cảm giác cứ như đang hít hơi của nồi xông giải cảm.
Dân đảo ai cũng nói cua đá là một vị thuốc, hỏi kỹ thuốc trị bịnh gì thì… không ai rõ, nhưng chỉ biết ăn vào vừa ngon vừa lạ miệng, tinh thần thấy mát mẻ