Đảo cù lao chàm là một cụm đảo, về mặt hành thẳng thắn thuộc xã đảo Tân Hiệp, đô thị Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km và đã được UNESCO xác nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đảo cù lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Hòn Mồ, một trong 8 hòn đảo của Đảo cù lao Chàm
Trong quá khứ, cụm đảo Ciam pullo, Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La ... ( Cù lao Chàm ngày nay ) từng là địa chỉ được đánh dấu đậm nét trên bản đồ hàng hải quốc tế ven biển Đông, từng là điểm dừng chân việc quen thuộc của thương thuyền nhiều nước ở phương Đông cũng như phương Tây trên các tuyến hải trình dọc theo các con đường hương liệu, tơ lụa, gốm sứ trên biển.
Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, phương tiện đi lại trên biển rất thô sơ, những chuyến hải hành liên nhà nước thường phải kéo dài trong nhiều tháng. Cũng trong thời gian đó, quan hệ thương mại giữa Trung Quốc và Ấn Độ được thiết lập. Con đường hàng hải nối giữa Trung Quốc và Ấn Độ đi từ phía Bắc Việt Nam, dọc theo bờ biển của bán đảo Đông Dương, qua bán đảo Mã Lai ở phần phía bắc và tới Kancipura ở miền Nam Ấn Độ. Một con đường khác không cắt ngang qua bán đảo, nhưng đi xuyên qua eo biển tới Malacca. Lúc này nhiều cảng thị hình thành trên bán đảo Đông Dương như: Phù Nam , Lâm Ấp... Chúng không chỉ là những trạm, những hải cảng quan trọng trên con đường hàng hải quốc tế, mà còn là trú sở và điểm thu mua nhiều sản vật quý dùng để xuất khẩu như: trầm hương, hồ tiêu, ngà voi, tơ lụa, đồi mồi... Trong đó Đảo cù lao Chàm là điểm tiền tiêu trên biển thuộc vương quốc Champa, nó là hiên nối giữa Trung Quốc với Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư, Ai Cập và các nước Châu Âu. Thành thử, Đảo Chàm có vịt xiêm xung yếu trong tuyến hàng hải khu vực ấn độ dương, là điểm dừng chân rất tiện lợi để thảo luận hàng hóa, tàng trữ lương thảo, nước ngọt của thương thuyền các nước trong cuộc hành trình đi đến các nhà nước khác trong khu vực Đông Nam Á và một số vùng lân cận.
Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XII, con đường tơ lụa, hương liệu và gốm sứ được hình thành, hoạt động hàng hải trên biển thái bình Dương rất tấp nập. Tàu buôn từ Địa Trung Hải đến Trung Quốc mang theo vàng bạc và kim khí khai khẩn được từ các mỏ Ba Tư và các vùng lân cận; cùng sao thủy và các đồ Trang điểm là những sản phẩm của Trung Đông sang các nước phương Đông và Trung Quốc bán buôn, sau đó họ mua lại đồ gia dụng, tơ lụa, gốm sứ, lâm hải sản từ các nước này về. Trên chặng đường dài đó, họ đã đi qua quần đảo Đảo cù lao Chàm, để đi sâu vào hải phận phía nam Trung Quốc và các hải cảng của Nhật.
Đặc biệt, cuối thế kỷ XV, các quốc gia ở phương Tây với nhiều đoàn thuyền đồ sộ ào ạt tràn sang phương Đông để tìm thịt, làm cho hoạt động thương mại trên biển của khu vực châu Á - thái hoà Dương trở thành sôi động hơn, tuần tự lôi cuốn các nước phương Đông tham gia vào thịt lĩnh vực và thế giới đang hình thành , Việt Nam là một trong những nước nằm bên con đường thương mại quốc tế. Vào thời điểm này ở đường trong, Vương quốc Champa suy tàn, người Việt đã làm chủ một vùng đất rộng lớn ở phía Nam. Dưới sự dẫn dắt của các chúa Nguyễn, người Việt kết nạp những thành tựu khai phá Chiêm cảng xưa của người Chăm và xây dựng Hội An trở nên một thành thị thương khẩu sầm uất, phát triển Dữ dội trong các thế kỷ XVII - XVIII. Cửa Đại Chiêm trở nên một trong những cảng thị thuận lợi để tàu thuyền quốc tế cập bến, trao đổi mua bán hàng hóa. Thương thuyền của các nước Nhật Bản , Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Malaixia, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... Tới Hội An buôn bán, thường phải qua trạm rà soát và thu thuế ở Đảo Chàm.
Đảo Chàm trở nên một thương khẩu sôi động ở khu vực Đông Nam Á trong nhiều thế kỷ và là điểm dừng chân của các thuyền buôn trong nước cũng như quốc tế. Nguồn hàng hóa sản vật phong phú của xứ Quảng cùng vịt bầu tiện lợi trong con đường tơ lụa trên biển của cửa Đại Chiêm và Đảo cù lao Chàm, cộng với chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn, đã nâng cao vai trò vùng đất Quảng Nam trong quá trình phát triển của xứ Đàng Trong.
2. Nên đi Cù lao Chàm vào thời điểm nào ?
Nên đi vào mùa hè để tận hưởng khí trời dễ chịu và hưởng cảm thụ giác được nhảy xuống làn nước mát lạnh của biển đảo Chàm
Đi vào ngày rằm hàng tháng để kết hợp ngắm phố cổ Hội An và thưởng thực đặc sản ốc vú nàng đảo Chàm
Lễ giỗ tổ nghề lấy yến ở đảo Chàm diễn ra vào 9-10/3 ( âm lịch )
hội lễ cầu ngư ở đảo Chàm diễn ra vào ngày 3-4/4 ( âm lịch )
3. Công cụ tới đảo Chàm
Bến tàu ở cù lao Chàm
Từ Hội An các bạn có 2 loại phương tiện để ra đảo Chàm là can và tàu chợ. Ví như lựa chọn can phạm thời gian sẽ chỉ mất khoảng 20' nhưng giá thành cao , tuyển trạch tàu chậm giá thành rẻ nhưng mất khoảng 2h để ra được đảo , tuy thế khi đi tàu chậm bạn sẽ có cảm giác ưa thích khi được linh đinh với từng con sóng , có thời gian để ngắm biển trời minh mông. Ca no thường đi từ bến tàu Cửa Đại , tàu chợ thường xuất phát ngay từ bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An , số telephone của tàu 0985686465 ( Bác Bốn )
tàu chợ đi ra cù lao Chàm phát xuất ngay tại bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An
Từ Hà Nội và Sài Gòn các bạn có xác xuất đi xe buýt giường nằm tới Hội An rồi từ đó tiếp tục chuyển di bằng thuyền gỗ hoặc canh ra với đảo Chàm. Ở đảo Chàm, bạn có thể thuê thuyền đi quanh đảo, đưa đi lặn ngắm hổ phách cho chủ động với kế hoạch của mình, không bị nước phụ thuộc như việc đặt tour đi trong ngày. Liên quan với các chủ nhà nghỉ để được hỗ trợ thuê thuyền hoặc liên hệ trực tiếp với Chú Cữ 01677874651
4. Khách sạn nhà nghỉ tại cù lao Chàm
Trên cù lao Chàm không có các khách sạn hay resort mà là các nhà nghỉ kiểu homestay nhưng rất thích với bất luận ai muốn khám phá hòn đảo xanh rất xinh này. Giá dịch vụ tại nhà dân khoảng 50k/1 người. Các bạn có khả năng liên tưởng với một số phôn dưới đây. ( Anh xưa nay một hướng dẫn viên du lịch tại đảo, nhà là quán cafe ở ngay cạnh Khu bảo tồn biển. Các bạn có xác xuất liên hệ với anh Nguyên để nhờ đặt vé canh ki na , đặt nhà nghỉ , thuê thuyền , thuê xe máy đi du lịch quanh đảo. Anh ấy rất nhiệt tình giúp rập và hỗ trợ các bạn)
5. Các địa điểm du lịch và hoạt động vui chơi ở cù lao Chàm
Các địa điểm du lịch ở đảo Chàm ( Nhấn vào ảnh để xem to hơn)
cù lao Chàm không phải là hòn đảo đặc biệt so với nhiều đảo gần bờ cũng như các khu dự trữ sinh quyển khác của Việt Nam. Cũng có bãi tắm thiên nhiên đẹp, phong cảnh hoang vu, hải sản phong phú... - Những lợi thế có khả năng bắt gặp ở bất kỳ hòn đảo du lịch nào, nhưng cái dấu ấn đặc sắc mà du khách bắt gặp ở đảo Chàm không phải là những lợi thế đó mà Ấy là cách khai khẩn những lợi thế.
Nhà bảo tàng biển cù lao Chàm
Nhà bảo tàng biển nằm ngay cạnh nhà đón tiếp khách khi tới đảo Chàm
Điểm dừng chân đầu tiên khi thuyền cập bến tàu đảo Chàm Ấy là nhà bảo tàng biển. Tuy nhỏ nhưng khi đến đây và được nghe các hướng dẫn viên trên đảo thuyết trình , dẫn dắt người nghe từ lịch sử hình thành , các phong tương truyền thống , lễ hội cho đến những phong phú của cù lao Chàm sẽ khiến bạn đi từ kinh ngạc này đến ngạc nhiên khác.
Hệ thống các bãi biển của cù lao Chàm
Bãi Ông
Các bãi biển ở đây vốn thiên nhiên tạo vật đã đẹp và người dân và chính quyền địa phương đã phát động các phong trào giữ giàng môi trường nên các bãi biển đảo Chàm được giữ giàng sạch ưu tú, khách du lịch vì thế ngày một kéo về đây đông hơn, các dịch vụ du lịch cũng hoàn thiện hơn.
Bãi Xếp là nơi du khách thường dừng lại lặn ngắm ngân
Dọc theo bờ biển từ Tây Bắc xuống Đông Nam của Hòn Lao , Có các bãi biển như: Bãi Bắc ( gồm 4 bãi nhỏ ) , Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Xếp ( gồm 3 Bãi nhỏ ) , Bãi Chồng , Bãi Bìm , Bãi Hương. Các bãi biển có chiều dài từ 100m ( Bãi Bắc ) đến 700m ( Bãi Hương ); chiều rộng phổ quát là 20m.
Toàn cảnh Bãi Làng nhìn từ trên núi
Bãi Bìm
Các bãi biển thoải với nền cát trắng mịn , sạch , nằm xen giữa các mỏm đá nhô ra tạo nên sự sản vật phong phú của địa tầng địa mạo. Ở Bãi Bắc, Bãi Chồng du khách sẽ gặp nhiều khối đá lớn được mài tròn tự nhiên hoặc nằm chồng lên nhau , tạo nên các hình ảnh gợi cảm mang tính biểu trưng sâu sắc.
Toàn cảnh Bãi Chồng
Tại Bãi Bắc , trên nền đám hỏi mòn hiện ra nhiều hang thiên nhiên. Tại Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Hương do các thềm cát mở mang tạo thành bãi cát rộng từ 40 - 50m. Dân cư khai khẩn những dải đất bồi hẹp , tạo thành một số ruộng bậc thang sản xuất lương thực , thiệt phẩm. Như thế nhờ tự nhiên tạo vật và nhân tạo nên đảo Chàm chứa nhiều cảnh đẹp tuy bình dị hoang vu nhưng đầy gợi cảm.
Bãi Hương
Biển đảo Chàm trong xanh có thể nhìn thấy đáy sâu hàng chục mét. Làn nước trong vắt ấy như mời gọi ta xuống tắm , rồi phơi mình trên những bãi cát mịn tưng sạch sẽ.
Lặn ngắm lưu li
Là một khu bảo tàng biển nức danh bởi sự đa dạng sinh học Hoa cúc loài quý hiếm , tuy nhiên những năm gần đây với lượng khách du lịch đến cù lao Chàm càng ngày càng tăng thì sức ép khai thác trên vùng rạn gồm kim là rất lớn làm cho rạn mã não bình phục chậm có tác động đến một điều gì đó cực kỳ nghiêm trọng cho hệ sinh cảnh biển tại đảo Chàm. Hầu hết các tour du lịch cù lao Chàm đều có các hoạt động lặn ngắm ngân
Giếng cổ Chăm ( còn làm gọi là Giếng Xóm Cấm )
Giếng Xóm Cấm nằm tại ngã ba con đường bêtông của khu dân cư xóm Cấm , cách 500m về phía Đông Bắc là di tích Tiền Sa Huỳnh Bãi Ông , cách di tích khảo cổ Bãi Làng 300m về hướng Tây Nam. Cấu trúc của giếng mang đặc thù giống với nhiều kiểu giếng Chăm khác ở Hội An.
Giếng có kiểu hình ống tròn , thành giếng hình tròn , nền giếng hình vuông , ở mỗi góc có một trụ vuông. Diện tích khuôn viên giếng khoảng 15m2, đường kính miệng giếng khoảng 1,2m. Lòng giếng xây gạch tô vữa vôi, được xây theo kiểu “vành khăn." Độ sâu từ miệng giếng đến đáy giếng khoảng 5m. Tuy nhiên , trải qua quá trình sử dụng hàng trăm năm , người dân nơi đây đã cải tạo lại nền giếng và xây thêm gạch vữa ximăng lên thành giếng nên đã phần nào làm chuyển biến cấu trúc.
Người dân tại thôn Bãi Làng cho biết Giếng Xóm Cấm là nguồn cung cấp nước rất nhiều cho người dân trong lĩnh vực. Điểm đặc biệt là nước của giếng này không bao giờ cạn , cho dù là vào mùa khô kiệt nhất.
Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây thì nước Giếng Xóm Cấm cực kỳ hiệu nghiệm khi giải chứng bệnh say sóng. Ví như người nào đi từ đất liền ra đảo chàm bị say sóng thì lấy nước Giếng Xóm Cấm nấu với lá rừng của đảo Chàm ( chỉ người dân xứ sở mới nhận biết và thường hái loại lá này ) thì uống vào là hết say sóng.
Mặc dù chưa rõ ràng được xác thực niên đại đồ đồng thau của giếng , song qua so sánh đối chiếu với các kiểu giếng Chăm khác ở Hội An và vùng lân cận cũng như thông cáo từ các nguồn tư liệu lịch sử cổ thì các nhà chuyên trị ý rằng Giếng Xóm Cấm có xác xuất đã được xây dựng cách đây khoảng trên 200 năm.
Bãi Đá Chồng
Chuyện kể rằng vào thời tun hút, đã lâu lắm rồi, thuở ông bà còn để chỏm, ở đất liền trù mật dân dã sống bình an. Như mọi nhà, dưới mái tranh êm ả có cặp vợ chồng nghèo. Do cả hai bên có chồng đều mất sớm vì đi biển gặp bão, những người vợ trẻ của họ ráng cắn răng chịu khổ nỗi cô đơn chồng chết để nuôi con khôn lớn. Bởi cùng tình cảnh nên cặp đôi trai gái đến với nhau thiên nhiên và thề yêu nhau đến trọn đời. Chàng trai có bộ ngực đô con và sức khoẻ vượt trội hơn hẳn mọi trai làng. Cô gái có nước da trắng như trứng gà mới bóc. Khuôn mặt bầu bĩnh cùng mái tóc dài thon thả rập rình làm tôn thêm vẻ yêu kiều của nụ cười luôn tươi rói trên môi. Vẻ đẹp của nàng được người trong làng từ già tới trẻ truyền tai nhau không chỉ vang xa hàng vạn dặm trên lục địa mà còn theo từng con sóng nước truyền đến tai Thần Biển. Ngày cưới của hai người được ấn định vào ngày đẹp trời. Cả làng đều mong cho họ răng long đầu bạc hạnh phúc trăm năm. Rồi ngày đứng trước bàn độc tổ tiên một nhà cũng đã đến, hai người nguyện ước mãi mãi không rời nhau. Bỗng đâu trời nổi giông gió, cát bụi mờ mịt Quần chúng không thấy mặt nhau. Đất dưới chân rung chuyển như muốn lún sụp thành vực thẳm. Trong bóng bão cát nhập nhoà hiện rõ gương mặt hung hãn của thần biển cùng ngôn ngữ chói lói lỗ tai: Ai có gan tìm được nàng ta sẽ trả. Cô gái bị cướp đi trong tiếng gầm rú ghê người. Sau phút hoảng loạn Quần chúng cùng nhận ra rằng vì say mê dung nhan nên Thần Biển đến cướp cô gái về hầu hạ trong Thủy cung.
Không dưng mất nàng, lòng chàng trai đau như muối xát, giữ thề nguyền sắt son xưa, được sự giúp sức của dân làng, chàng trai nín nhịn nỗi đau chia tay hai người mẹ thân thương cố chí đi tìm cứu vợ, thề rằng không gặp không về, nếu đuối sức ở đâu thì chết tại đấy. Một mình một ghe, lương khô lót bụng , lấy gió làm bạn, lấy mưa nắng che mình. Trải bao có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn, thử thách rồi một ngày kia, chàng bị bão tố nổi lên đánh bạt vào bãi đá một hòn đảo. Nhân lực có hạn, đói khổ và nỗi đau mất vợ cùng cùng sự mất hết hi vọng đơn chiếc xúm lại quật ngã chàng. Tây sáng, ánh dương dần chói chang cả lãnh hải đẹp. Ráng đứng lên hướng nhìn đất liền, tạ lỗi với dân làng về niềm tin mà họ đã gửi gắm, chàng đứng sững trút hơi thở cuối cùng. Dân trên đảo gần đấy nghe tiếng kêu ai oán kế sau tiếng sét rung trời. Thì ra mến trọng lòng thuỷ chung và sự chịu đựng thử thách của chàng, Ngọc chúa thượng Đế đã cho chàng hoá đá để mãi nhìn về quê hương trong khắc khoải đau thương vì lời thề chưa trọn. Về sau lâu dần, hình chàng được mưa gió ăn mòn thành hòn đá chồng lên nhau như hình người bé nhỏ, đang trong cơn đau khổ tuyệt vọng nên được làm gọi là Đá Chồng, bãi đá có hòn đá ấy cũng được gọi là Bãi Đá Chồng. Cũng có người nói do hòn đá nhỏ chồng lên hòn đá lớn nên gọi Đá Chồng.
Ông bà xưa kể rằng mấy thày phong thuỷ người Tàu nói nếu đứng từ đây nhìn về Hội An thấy Cửa Đại và Hòn núi Chúa ở Khu đất thánh Mỹ Sơn là một đường thẳng. Đấy là hướng phong thuỷ hợp cung Theo tập quán xưa như là sự định đoạt hài hoà của Trời và Đất. Vì thế cù lao Chàm vốn là đất linh nhưng đất vùng này còn là tụ điểm địa linh ít nơi bì được. Cũng có người nói vùng đất Bãi Chồng là trái tim của cả hòn Biền, hòn Lao nên mọi hoạt động ở đây phải cẩn thận lắm mới có kết quả tốt.
Đã có một thời bọn cướp biển người Tàu thường chọn nơi Bãi Chồng làm nơi giấu tàu để lùng cướp, trấn lột những thương nhân chân chính đến với cảng Hội An nên bãi cát gần Đá Chồng còn có tên Bãi Tàu. Nhưng có điều lạ là những tàu của bọn người làm điều phi nghĩa khi đậu ở đây sau đó ra biển thường gặp nạn, không sóng lớn đánh vỡ tàu thì cột buồm cũng bị bẻ gãy, ít gặp bình an.
Với người lương thiện thì lại hay gặp may. Ai có lòng trước khi ra biển mà lên thắp hương lạy lục sẽ dễ trúng lớn. Cá ở đâu không biết cứ về bơi hàng đàn quanh ghe để công chúng chỉ việc khoắng vợt xuống hớt lên. Chuyện xưa kể rằng ông Trùm Cải ở Bãi Làng có đứa nử tử mới đẻ được hơn năm nhưng hai chân cứ bắt chéo nhau không dứng lên được mới sai vợ bồng đến đây neo ghe ngủ qua đêm , một lòng một dạ khẩn cầu lời thề. Gần sáng bỗng một ông già râu tóc bạc phơ tay cầm cái gậy ngọc Như Ý đến gõ gõ vào chân con bé nói cha mày là Trùm , có lần làm ác mới đẻ ra mày khuyết tật, nay biết hối muốn làm điều lành, một lời cầu khẩn nên ta giúp đây, dậy mau, dậy mau, nói rồi biến mất. Mẹ con sững sờ trở dậy thấy chân con bé lành lẽ không ngờ. Từ đấy không mấy ai dám làm ác ở Bãi Làng và ông Trùm Cải thì một lòng một dạ làm việc thiện, nghe nói sau này nhân chuyến du hành của một vị quan trong triều đến đảo qua gặp mặt, lại nghe dân chúng một lòng một dạ khen ngợi nên thấy yêu mến bèn đưa về kinh cho làm chức lớn. Thỉnh thoảng sau thời gian ấy , ông Trùm Cải vẫn đưa thê tử về thăm đảo và cho tiền giúp nhiều người nghèo vượt qua cơn khó. Về sau nghe đồn ông Trùm chết già ở kinh còn con gái lớn lên nức danh xinh đẹp và được làm dâu nhà quyền quý sung sướng cả đời.
Lại cũng hay tương truyền rằng vùng này linh lắm. Ai có ý trung nhân, có chồng, vợ bị tệ , hoặc chẳng gặp may chuyện đôi lứa trong đời , cứ đến đây thầm thĩ ước nguyện là qua vận rủi , còn nếu không , cũng thoả được niềm ưu tư để cuộc đời xuôi chèo mát mái.
Truyện tích về Bãi Chồng ở cù lao Chàm qua nhiều người truyền xa suốt Quảng Ngãi , Bình Định đều biết. Cũng có khi được tô vẽ thêm nhiều tình tiết đau lòng đầy cảm thương nhưng đều có hậu. Cũng lại có chuyện kể rằng sau khi chết , chàng trai và cả cô gái được Ngọc Hoàng cho diện kiến để thử lòng bằng cách hỏi nguyện vọng muốn được sinh vào nhà quyền quý cao sang hay muốn đầu thai trở lại làm phu phụ để thỏa nguyện ước base , dù cho phải sống nghèo. Trong hai chỉ được quyền chọn một. Cả hai đều nhất quyết xin được sống với nhau cho trọn lời thề xưa , dù có phải bần hàn. Rồi Ngọc Hoàng cũng không nỡ nên đã cho họ tái sinh trở nên cặp vợ chồng vừa giàu có vừa nổi tiếng thương yêu nhau rất mực , nghe đồn là cặp vợ chồng mẫu mực số một trên nhân gian này. Mỗi khi được nghe kể Quần chúng đều chép miệng ao ước , phải như mình được một góc của họ và cố tìm dịp để vượt sóng nước đến với Bãi Chồng , Đá Chồng và đảo Chàm đầy ắp những truyền thuyết.
Chùa Hải Tạng
Chùa cổ Hải Tạng - cù lao Chàm là công trình kiến trúc tôn giáo tư tưởng thờ Phật kết hợp thờ thần thánh nhằm đáp ứng nhu cầu tập quán của ngư dân trên đảo cù lao Chàm nói riêng và cho thương thuyền các nước ghé vào hành lễ cúng kính đạo đức Phật giáo với mong mỏi được phù trợ trên con đường làm ăn , buôn bán của họ.
Chùa được xây dừng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt bầu cách nơi này khoản 200m về phía bắc vì do bão làm hư hại nặng nề , để thuận lợi cho các tín đồ đến hành lễ Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt cỏ cách nơi này khoảng 200m về hướng đông bắc , sau vì do bão làm hư hại nặng và để tiện lợi cho các tín đồ thiên chúa giáo đến hành lễ nên vào năm Tự Đức nguyên niên ( 1848 ) Chùa được dời về vịt bầu ngày nay và tiếp tục được tu tạo khang trang hơn.
Chùa ở vào thế phong thủy lý tưởng , tọa lạc sát chân núi phía Tây của Hòn Lao thuộc đảo Chàm , lưng tựa núi vững chãi , mặt tiền xoay theo hướng Tây – Tây Nam nhìn thẳng vào núi Bà Mộc như thể hòn xôi án ngữ. Đây là hướng nhìn lý tưởng , bởi có sự thoáng khí , tiền hậu , tả hữu rành mạch. Ngay dưới chân là đồng ruộng , khu dân cư và mờ xa về đất liền là thành phố cổ Hội An. Phía Nam có khoảng trống gió lùa trải dài qua Rừng Cấm ( nay là Xóm Cấm ) đưa hơi nước từ Hòn Nhờn lướt qua trước mặt thổi lên khu dốc Chùa. Theo truyền thuyết , quá khứ khu này rừng rậm có nhiều trăn , rắn độc. Bởi thế , để không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro , tường thành đùm bọc xung quanh chùa được xây bằng đá , cổng tam quan phía trước gồm 3 lối vào , tam quan tạo dáng vòm , mái lợp ngói âm dương và đắp nhiều con giống. Toàn bộ tam quan cao 5m , rộng nhất 1 , 5m , dài 6m. Kề ngay đấy là 4 trụ biểu , trên chóp trụ có khối hình hoa sen cánh lật… Dù thiên nhiên hà khắc , lại phải đương với nhiều trận cuồng phong hàng trăm năm qua nhưng đến nay , công trình chính vẫn vững vàng , bề thế. Tuy nhà Tây đã bị sập không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả , nhà Đông còn lại phần cấu trúc chính nhưng tuốt di tích vẫn toát lên vẻ hào sảng uy nghiêm hiếm thấy ở các di tích khác. Chính điện lợp ngói âm dương , bờ nóc , bờ hồi đắp nổi nhiều đường nét uốn lượn mềm mại, uyển chuyển tạo cảm giác nhẹ nhàng.
Lùi vào mái hiên khoảng 2,5m là hệ thống giao thông cửa ( thường khép kín), thượng song hạ bản , gồm 3 bộ , mỗi bộ 4 cánh ngăn không gian bên ngoài với không gian nội thất. Tuốt nếp nhà chính này có hệ vì kèo phân bố kiểu “chồng rường giả thủ” chia làm 3 lòng. Việc mở mang diện tích ở đây được sử dụng phương pháp Thêm lên lòng nhà bằng cách tăng cường hệ liên kết các cây rường, cột cái, cột quân và giả thủ trong thế đỡ thẳng lên đòn tay ( hoành ), lòng 3 của mái trước được ngăn cách bởi hệ thống cửa làm nên mái hiên. Với lối cấu trúc này, cộng với kết liên ngang gồm 4 vì ( vài ) chia làm 3 gian, tạo cho không gian nội thất của chùa thông thoáng, vừa có chiều cao, vừa có chiều sâu và mở rộng.
Nội thất chùa lộng lẫy nhờ hệ thống hoành phi , câu đối sơn son thếp vàng , uy nghiêm , trình tự mơ hồ thiêng nhờ hệ thống tượng thờ đồ sộ trên những bàn hương án tả hữu , trước sau như những mạch nối tiếp huyền bí thẳm sâu trong quang cảnh oai vệ đầy màu sắc. Nổi bật là bộ Tam thế Phật bằng hợp chất gồm 3 tượng. Kế đến là tượng Thích Ca ngồi trên đài sen…
Chùa có nhiều truyền thuyết nhưng cư dân ở đây vẫn tâm đầu ý hợp nhất câu chuyện về việc xây chùa. Tục truyền các cây cột được làm từ ngoài Bắc đem về làm một chùa nào đó trong Nam nhưng khi về đến đảo Chàm vì trời tối nên phải neo ghe nghỉ lại. Sáng ra , ghe kéo neo đi tiếp , nhưng thật lạ thường , biển tự dưng sóng dậy , ghe cứ xà quần , tới lui lòng vòng không đi ra khỏi Lao. Sau có người trong đoàn lên cúng xin keo mới biết dàn cột này phải để lại dựng chùa cho cù lao Chàm không được đem đi. Vì thế chùa dựng lên lấy tên là Hải Tạng. Hải là biển , Tạng là kinh , ý nói Chùa là nơi tụ họp kinh tạng minh mông như biển. Một ý khác là Kinh Tạng của Nhà Phật đây được giao hội từ mọi con đường trên biển.
Chợ Tân Hiệp Phiên chợ sớm trên đảo đảo Chàm
Đến du lịch đảo Chàm , du khách không thể không ghé qua Chợ Tân Hiệp ( nhiều khách du lịch làm gọi là Chợ cù lao Chàm ). Chợ Tân Hiệp bán các đặc sản rừng , biển và quà lưu niệm , Chợ Tân Hiệp nằm ngay bên trong chân cầu cảng du lịch , kề bên bến cá Bãi Làng. Cho rằng “chợ” nhưng lại thiếu hẳn những âm thanh ồn ã việc quen thuộc. Chỉ có những Dưới chân di chuyển rất chậm , để ngắm , để sờ nắm và để ăn giá với giọng vừa đủ nghe. Ví như muốn , khách phương xa cũng có thể ướm thử chuỗi hạt làm từ vỏ sò , thử hơi với chiếc tù và vỏ ốc hoặc giải nhiệt miễn phí với một cốc nước lá lao thơm lừng , ngọt lịm…
Đảo Yến
đảo Chàm là nơi độc nhất vô nhị của tỉnh Quảng Nam có loài chim Yến hàng - Collocalia Fuciphaga Genmaini Oustalet, thuộc phân giống Yến hông xám ( Swiftlets ), giống Collocalia, họ Apodidac, bộ Yến Apdiformes. Chim Yến có dáng vóc chỉ nhỏ bằng chim sẻ, hông và bụng màu xám , toàn thân nâu đen; cánh dài ( 115-125mm ), vút nhọn, bay rất khoẻ, đuôi ngắn, chẻ đôi; mỏ ngắn, dẹp, có khả năng há rất rộng.
Hàng năm, vào cuối tháng 11 âm lịch, yến bắt đầu làm tổ theo một cách rất độc đáo: yến nhả nước bọt thành những dãi trắng lên những vách đá cheo leo của các hang động trên đảo. Dãi yến mới nhả ra có màu trắng phớt hồng, gặp gió quánh lại, chuyển thành màu trắng đục.
Tổ chim yến thường được làm gọi là yến sào hay tai yến. Yến đẻ trứng , ấp trứng và nuôi cho đến khi chim con đủ sức tự bay đi kiếm mồi. Tổ yến có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, chiếm từ 36-52% protein và là một nguồn dược chất rất quý. Tổ yến giúp tăng sức để kháng cho thân thể, bổ khí huyết, tráng dương, ổn định thần kinh, chống lão hoá, làm đẹp nước da và có khả năng ngăn ngừa, thậm chí chữa được nhiều loại bệnh khó chữa như lao phổi, hen, viêm xương...Chính vì vậy, yến sào là loại hàng hoá hiếm quý, đắt giá trên thịt thà từ xưa đến nay.
Ở Hội An , một ông lão họ Trần tình cờ phát xuất hiện tổ yến sau đó tổ chức khai thác và nộp thuế. Vì thế , các chúa Nguyễn ( từ thế kỷ 17 ) đã cho lập “Đội Thanh Châu”, bản chất là giao cho dân làng Thanh Châu ( Hội An ) khai khẩn yến sào ở vùng đảo đảo Chàm và nộp thuế hàng năm cho nhà nước. Sau này , mở mang vào các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa.
Khai khẩn yến sào phải leo lên các vách đá chênh vênh, hiểm trở, bên dưới là mặt nước biển ăn sâu vào hang sâu, nếu sơ sểnh, người thợ khai thác khó an toàn tính mạng.
Ở đảo Chàm, chim yến thường làm tổ trong các hang ở Hòn Khô (mẹ), Hòn Lao , viên Tai... Việc khai khẩn yến sào ở Hội An hiện tại do Đội khai khẩn Yến, trực thuộc UBND Thị xã phụ trách. Mỗi năm, khai khẩn 2 kỳ ( vào tháng 4 và tháng 8 dương lịch ).
Miếu tổ nghề Yến
Miếu tổ nghề Yến nằm ở Bãi Hương - Hòn Lao - cù lao Chàm. Miếu Tổ nghề Yến được xây dựng có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết vào khoảng đầu thế kỷ 19 để thờ Tổ nghề Yến và Các ngài thần Ngăn giữ nghề Yên. Hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch , cư dân và những người làm nghề khai thác yến tổ chức cúng rất linh đình để Dự bị cho mùa vụ khai thác mới
Trên bàn thờ , ngoài các bài vị của những bậc tiền bối Mở đầu nghề yến sào là các ông thần liên hệ đến sông biển. Trên tường bên hữu có tấm bia đá ghi công đức của các chư phái tộc và ca ngợi vẻ núi kỳ vĩ của cù lao Chàm.
6. Các món ăn ngon ở đảo Chàm
Mực một nắng
Phơi mực một nắng ( Ảnh - Nova 224 )
Mực một nắng cù lao Chàm khá Đa chủng với nhiều loại: mực lá , mực ống , mực tuộc , mực ghim... Nhưng chỉ có mực ống mới chế biến được món mực một nắng ngon. Địa ngục ta chọn những con mực vừa mang từ biển về hãy còn tươi rói , sau thời gian ấy chỉ phơi độc nhất một lần nắng giòn. Thật ra thao tác phơi chỉ là quá trình rút bớt nước cho bay bớt mùi tanh, mực còn ở dạng tái nên khi thưởng thức vẫn cảm nhận được độ tươi ngon của mực nhưng thấy cả hương vị của mực khô. Tuy nhiên, để mực một nắng ngon, người phơi cũng phải đảm bảo kỹ thuật, sao cho mực phơi rồi thân ngoài đã ráo hẳn nhưng bên trong thịt vẫn còn tươi rói.
Mực một nắng nướng tại chỗ được du khách rất ưa thích
Thường mực một nắng được khách du lịch chọn mua và nướng tại chỗ , thưởng thức ngay trên bãi biển đảo Chàm lồng lộng gió. Mực một nắng tuy chế biến không khó nhưng đòi hỏi sự kĩ càng, phải nướng kỹ trên lửa than Khi mực chuyển sang màu vàng, mùi thơm bốc lên nưng nức hai cánh mũi là lúc mực vừa chín tới. Món này thường chấm với tương ớt cũng giống như mực khô nướng. Khi ăn, miếng mực ngọt ngào, mềm mềm, thơm phức , hòa quyện với vị cay nồng của tương ớt. Mùa câu mực ở cù lao Chàm diễn ra từ tháng 2-5 âm lịch nhưng đặc sản mực một nắng thì bạn có khả năng mua quanh năm.
Cua đá
Cua Đá là một món ngon dân quê của xứ đảo cù lao mà ai từng đến đây cũng mong được nếm thử. Cua có vị thịt ngọt , thanh chứ không phảng phất vị tanh thường thấy của động vật miền biển. Do cua đá ăn các loại cây cỏ trên núi , nên thịt cua nồng một mùi cây rừng , thơm đến lạ.
Mỗi con cua đá làng nhàng chỉ lớn bằng nắm tay , và có màu sắc rất ấn tượng , mai và các chi màu nâu tím , phần bụng dưới ngả màu vàng ươm. Cua đá rất khoẻ , chạy nhanh , và thường chỉ lú đầu khỏi hang khi đêm xuống để đi ăn. Đó cũng là lúc những cư dân trên đảo đi săn cua đá. Một thợ săn cua cho biết , đi săn mà gặp 10 con , bắt được 4 - 5 con là nghề lắm rồi.
Cũng do cái “tội” nhanh chạy , bền bỉ , leo núi khoẻ , lại chuyên “ăn chay” nên thịt cua đá rất ngon , từ cái nước luộc cua đã đượm vị ngọt nhẹ , dịu thanh , thịt cua dai hơn hẳn cua biển , cua đồng , không chút mùi tanh. Nhưng cái độc chiêu nhất khi thưởng thức cua đá , đó là hương thơm nổi bật lạ hay bất thường. Giở ngược cái mai cua , túm mấy chân xé một đường , con cua mới luộc còn hơi nóng , phả làn khói nhẹ từ phần thịt nằm dưới mai cua , xông lên mũi phảng phất đâu đấy chút hơi có mùi the , cay cay mùi dược thảo , đem lại cho người ăn cảm giác cứ như đang hít hơi của nồi xông giải cảm.
Dân đảo ai cũng nói cua đá là một vị thuốc, hỏi kỹ thuốc trị bịnh gì thì… không ai rõ, nhưng chỉ biết ăn vào vừa ngon vừa lạ miệng, tinh thần thấy mát mẻ
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét