Thứ Hai, 21 tháng 7, 2014

Đà Nẵng: Đưa vào hoạt động “Vòng quay Mặt Trời – Sun Wheel”

Đảo Chàm là một cụm đảo, về mặt hành thẳng thắn thuộc xã đảo Tân Hiệp, đô thị Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km và đã được UNESCO xác nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Cù lao Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.
1. Lịch sử hình thành và phát triển
Hòn Mồ, một trong 8 hòn đảo của Cù lao Chàm
Trong quá khứ, cụm đảo Ciam pullo, Chiêm Bất Lao, Tiêm Bích La ... (Đảo cù lao Chàm hiện nay ) từng là địa chỉ được đánh dấu đậm nét trên bản đồ hàng hải quốc tế ven biển Đông, từng là điểm dừng chân quen thuộc của thương thuyền nhiều nước ở phương Đông cũng như phương Tây trên các tuyến hải trình dọc theo các con đường hương liệu, tơ lụa, gốm sứ trên biển.
Từ những thế kỷ đầu Công nguyên, phương tiện đi lại trên biển rất thô sơ, những chuyến hải hành liên nhà nước thường phải kéo dài trong nhiều tháng. Cũng trong thời gian đó, quan hệ thương nghiệp giữa Trung Quốc và Ấn Độ được thiết lập. Con đường biển nối giữa Trung Quốc và Ấn Độ đi từ phía Bắc Việt Nam, dọc theo bờ biển của bán đảo Đông Dương, qua bán đảo Mã Lai ở phần phía bắc và tới Kancipura ở miền Nam Ấn Độ. Một con đường khác không cắt ngang qua bán đảo, nhưng đi xoi thấu eo biển tới Malacca. Lúc này nhiều cảng thị hình thành trên bán đảo Đông Dương như: Phù Nam , Lâm Ấp... Chúng không chỉ là những trạm, những hải cảng quan trọng trên con đường hàng hải quốc tế, mà còn là nơi trú ngụ và điểm thu mua nhiều sản vật quý dùng để xuất khẩu như: trầm hương, hồ tiêu, ngà voi, tơ lụa, đồi mồi... Trong đó Đảo Chàm là điểm tiền tiêu trên biển thuộc vương quốc Champa, nó là hiên nối giữa Trung Quốc với Ấn Độ, Ả Rập, Ba Tư, Ai Cập và các nước Châu Âu. Thành thử, Cù lao Chàm có vịt trọng yếu trong tuyến hàng hải lĩnh vực, là điểm dừng chân rất thuận tiện để trao đổi hàng hóa, tích trữ lương thảo, nước ngọt của thương thuyền các nước trong cuộc hành trình đi đến các nhà nước khác trong khu vực Đông Nam Á và một số vùng lân cận.

Từ thế kỷ thứ VII đến thế kỷ thứ XII, con đường tơ lụa, hương liệu và gốm sứ được hình thành, hoạt động hàng hải trên biển thanh bình Dương rất tấp nập. Tàu buôn từ Địa Trung Hải đến Trung Quốc mang theo vàng ngọc và kim loại khai khẩn được từ các mỏ Ba Tư và các vùng lân cận; cùng sao thủy và các đồ trang sức là những sản phẩm của Trung Đông sang các nước phương Đông và Trung Quốc bán buôn, sau thời gian ấy họ mua lại đồ gia dụng, tơ lụa, gốm sứ, lâm thuỷ sản từ các nước này về. Trên chặng đường dài đó, họ đã đi qua quần đảo Đảo cù lao Chàm, để đi sâu vào hải phận phía nam Trung Quốc và các hải cảng của Nhật.

Đặc biệt, cuối thế kỷ XV, các quốc gia ở phương Tây với nhiều đoàn thuyền đồ sộ ào ạt tràn sang phương Đông để tìm thịt, làm cho hoạt động thương mại trên biển của khu vực châu Á - thái bình Dương trở nên sôi động hơn, lần lượt cuốn hút các nước phương Đông tham gia vào thịt khu vực và thế giới đang hình thành , Việt Nam là một trong những nước nằm bên con đường thương mại quốc tế. Vào thời điểm này ở đàng trong, Vương quốc Champa suy vong, người Việt đã làm chủ một vùng đất rộng lớn ở phía Nam. Dưới sự dắt dẫn của các chúa Nguyễn, người Việt kết thúc những thành quả khai khẩn Chiêm cảng xưa của người Chăm và xây dựng Hội An trở nên một thành phố thương cảng sầm uất, phát triển Dữ dội trong các thế kỷ XVII - XVIII. Cửa Đại Chiêm trở thành một trong những cảng thị tiện lợi để tàu bè quốc tế cập bến, thảo luận mua bán hàng hóa. Thương thuyền của các nước Nhật Bản , Trung Quốc, Xiêm La, Miến Điện, Malaixia, Bồ Đào Nha, Anh, Pháp, Hà Lan... Đến Hội An buôn bán, thường phải qua trạm kiểm soát và thu thuế ở Cù lao Chàm.
Cù lao Chàm trở thành một thương cảng sôi động ở khu vực Đông Nam Á trong nhiều thế kỷ và là điểm dừng chân của các thuyền buôn trong nước cũng như quốc tế. Nguồn hàng hóa sản vật phong phú của xứ Quảng cùng vịt xiêm thuận tiện trong con đường tơ lụa trên biển của cửa Đại Chiêm và Đảo Chàm, cộng với chính sách mở cửa của các chúa Nguyễn, đã nâng cao vai trò vùng đất Quảng Nam trong quá trình phát triển của xứ Đàng Trong.
2. Nên đi Cù lao Chàm vào thời điểm nào ?
Nên đi vào mùa hè để tận hưởng không khí mát mẻ và hưởng thụ cảm giác được nhảy xuống làn nước mát lạnh của biển đảo Chàm
Đi vào ngày rằm hàng tháng để phối hợp ngắm phố cổ Hội An và thưởng thực đặc sản ốc vú nàng đảo Chàm
Lễ giỗ tổ nghề lấy yến ở cù lao Chàm diễn ra vào 9-10/3 ( âm lịch )
lễ hội cầu ngư ở cù lao Chàm diễn ra vào ngày 3-4/4 ( âm lịch )
3. Công cụ tới cù lao Chàm
Bến tàu ở cù lao Chàm
Từ Hội An các bạn có 2 loại công cụ để ra cù lao Chàm là canh và tàu chợ. Nếu lựa chọn canh bạc thời kì sẽ chỉ mất khoảng 20' nhưng giá thành cao , lựa chọn tàu chợ giá thành rẻ nhưng mất khoảng 2h để ra được đảo , tuy vậy khi đi tàu chậm bạn sẽ có cảm giác ham thích khi được linh đinh với từng con sóng , có thời gian để ngắm biển trời bao la. Ca no thường đi từ bến tàu Cửa Đại , tàu chậm thường phát xuất ngay từ bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An , số fone của tàu 0985686465 ( Bác Bốn )
tàu chợ đi ra đảo Chàm khởi hành ngay tại bến Bạch Đằng trong phố cổ Hội An
Từ Hà Nội và Sài Gòn các bạn có xác xuất đi xe buýt giường nằm tới Hội An rồi từ đó nối tiếp chuyển di bằng thuyền gỗ hoặc can chi ra với cù lao Chàm. Ở cù lao Chàm, bạn có thể thuê thuyền đi quanh đảo, đưa đi lặn ngắm san hô cho chủ động với kế hoạch của mình, không bị phụ thuộc như việc đặt tour đi trong ngày. Liên tưởng với các chủ nhà nghỉ để được tương trợ thuê thuyền hoặc liên tưởng trực tiếp với Chú Cữ 01677874651
4. Khách sạn nhà nghỉ tại đảo Chàm
Trên cù lao Chàm không có các khách sạn hay resort mà là các nhà nghỉ kiểu homestay nhưng rất thú vị với vô luận ai muốn khám phá hòn đảo xanh xinh đẹp này. Giá service tại nhà dân khoảng 50k/1 người. Các bạn có thể liên hệ với một số phôn dưới đây. ( Anh nguyên là một hướng dẫn viên du lịch tại đảo, nhà là quán cafe ở ngay cạnh Khu bảo tàng biển. Các bạn có xác xuất liên hệ với anh Nguyên để nhờ đặt vé can , đặt nhà nghỉ , thuê thuyền , thuê xe máy đi du lịch quanh đảo. Anh ấy rất nhiệt tình giúp rập và tương trợ các bạn)
5. Các địa điểm du lịch và hoạt động vui chơi ở đảo Chàm
Các nơi chốn du lịch ở cù lao Chàm ( Nhấn vào ảnh để xem to hơn)
đảo Chàm không phải là hòn đảo đặc biệt so với nhiều đảo gần bờ cũng như các khu dự trữ sinh quyển khác của Việt Nam. Cũng có bãi tắm tự nhiên đẹp, cảnh quan hoang vu, hải sản phong phú... - Những lợi thế có xác xuất bắt gặp ở bất kỳ hòn đảo du lịch nào, nhưng cái dấu ấn đặc sắc mà du khách bắt gặp ở đảo Chàm không phải là những lợi thế đó mà chính là cách khai khẩn những lợi thế.
Nhà bảo tồn biển cù lao Chàm
Nhà bảo tàng biển nằm ngay cạnh nhà đón tiếp khách khi tới đảo Chàm
Điểm dừng chân hàng đầu khi thuyền cập bến tàu cù lao Chàm Ấy là nhà bảo tàng biển. Tuy nhỏ nhưng khi đến đây và được nghe các hướng dẫn viên trên đảo thuyết trình , dắt dẫn người nghe từ lịch sử hình thành , các phong tương truyền thống , hội lễ cho đến những sản vật phong phú của cù lao Chàm sẽ khiến bạn đi từ ngạc nhiên này đến kinh ngạc khác.
Hệ thống giao thông các bãi biển của đảo Chàm
Bãi Ông
Các bãi biển ở đây vốn tự nhiên tạo hóa đã đẹp và người dân và chính quyền địa phương đã phát động các phong trào giữ gìn môi trường nên các bãi biển đảo Chàm được gìn giữ sạch đẹp hơn, khách du lịch vì thế ngày một kéo về đây đông hơn, các dịch vụ du lịch cũng hoàn thiện hơn.
Bãi Xếp là nơi du khách thường dừng lại lặn ngắm lưu li
Dọc theo bờ biển từ Tây Bắc xuống Đông Nam của Hòn Lao , Có các bãi biển như: Bãi Bắc ( gồm 4 bãi nhỏ ) , Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Xếp ( gồm 3 Bãi nhỏ ) , Bãi Chồng , Bãi Bìm , Bãi Hương. Các bãi biển có bề dài từ 100m ( Bãi Bắc ) đến 700m ( Bãi Hương ); chiều rộng phổ thông là 20m.
Toàn cảnh Bãi Làng nhìn từ trên núi
Bãi Bìm
Các bãi biển thoải với nền cát trắng mịn , sạch , nằm xen giữa các mỏm đá thò ra tạo nên sự sản vật phong phú của địa tầng địa mạo. Ở Bãi Bắc, Bãi Chồng du khách sẽ gặp nhiều khối đá lớn được mài tròn thiên nhiên hoặc nằm chồng lên nhau , tạo nên các hình ảnh gợi cảm mang tính biểu trưng sâu sắc.
Toàn cảnh Bãi Chồng
Tại Bãi Bắc , trên nền đám hỏi mòn hiện ra nhiều hang tự nhiên. Tại Bãi Ông , Bãi Làng , Bãi Hương do các thềm cát mở mang làm nên bãi cát rộng từ 40 - 50m. Dân cư khai khẩn những dải đất bồi hẹp , tạo thành một số ruộng bậc thang sản xuất lương thực , thực phẩm. Như thế nhờ tự nhiên tạo hóa và nhân tạo nên đảo Chàm chứa nhiều cảnh đẹp tuy dung dị hoang sơ nhưng đầy gợi cảm.
Bãi Hương
Biển đảo Chàm trong xanh có thể nhìn thấy đáy sâu hàng chục mét. Làn nước trong vắt ấy như mời gọi ta xuống tắm , rồi phơi mình trên những bãi cát mịn tưng sạch sẽ.
Lặn ngắm xà cừ
Là một khu bảo tàng biển nức danh bởi sự Đa chủng sinh vật học có nhiều giống loài quý hiếm , tuy nhiên những năm gần đây với lượng khách du lịch đến đảo Chàm ngày càng tăng thì áp lực khai thác trên vùng rạn san hô là rất lớn làm cho rạn ngân hồi phục chậm ảnh hưởng cực kỳ trầm trọng cho hệ sinh cảnh biển tại cù lao Chàm. Hồ hết các tour du lịch cù lao Chàm đều có các hoạt động lặn ngắm gồm kim
Giếng cổ Chăm ( còn gọi là Giếng Xóm Cấm )
Giếng Xóm Cấm nằm tại ngã ba con đường bêtông của khu dân cư xóm Cấm , cách 500m về phía Đông Bắc là di tích Tiền Sa Huỳnh Bãi Ông , cách di tích khảo cổ Bãi Làng 300m về hướng Tây Nam. Kiến trúc của giếng mang đặc thù giống với nhiều kiểu giếng Chăm khác ở Hội An.
Giếng có kiểu hình ống tròn , thành giếng hình tròn , nền giếng hình vuông , ở mỗi góc có một trụ vuông. Diện tích khuôn viên giếng khoảng 15m2, đường kính miệng giếng khoảng 1,2m. Lòng giếng xây gạch tô vữa vôi, được xây theo kiểu “vành khăn." Độ sâu từ miệng giếng đến đáy giếng khoảng 5m. Tuy nhiên , trải qua quá trình sử dụng hàng trăm năm , người dân nơi đây đã cải tạo lại nền giếng và xây thêm gạch vữa ximăng lên thành giếng nên đã phần nào làm biến chuyển cấu trúc.
Người dân tại thôn Bãi Làng cho biết Giếng Xóm Cấm là nguồn cung cấp nước rất nhiều cho người dân trong chuye. Điểm đặc biệt là nước của giếng này không bao giờ cạn , dù cho là vào mùa khô kiệt nhất.
Theo kinh nghiệm của người dân nơi đây thì nước Giếng Xóm Cấm cực kỳ kiến hiệu khi giải chứng bệnh say sóng. Ví như người nào đi từ lục địa ra đảo chàm bị say sóng thì lấy nước Giếng Xóm Cấm nấu với lá rừng của đảo Chàm ( chỉ người dân Vùng đất mới nhận biết và thường hái loại lá này ) thì uống vào là hết say sóng.
Mặc dầu chưa xác định được chính xác niên đại của giếng , song qua so sánh đối chiếu với các kiểu giếng Chăm khác ở Hội An và vùng phụ cận cũng như thông báo từ các nguồn tư liệu lịch sử cổ thì các nhà chuyên môn tuy là Giếng Xóm Cấm có xác xuất đã được xây dựng cách đây khoảng trên 200 năm.
Bãi Đá Chồng
Chuyện kể rằng vào thời heo hút, đã lâu lắm rồi, thuở ông bà còn để chỏm, ở đất liền trù mật dân quê sống bình yên. Như mọi nhà, dưới mái tranh êm đềm có cặp thất gia nghèo. Do cả hai bên có chồng đều mất sớm vì đi biển gặp bão, những người vợ trẻ của họ ráng cắn răng chịu khổ nỗi đơn chiếc góa chồng để nuôi con khôn lớn. Bởi cùng tình cảnh nên cặp đôi trai gái đến với nhau tự nhiên và thề yêu nhau đến trọn đời. Chàng trai có bộ ngực vạm vỡ và sức khoẻ vượt trội hơn hẳn mọi trai làng. Cô gái có nước da đỏ như trứng gà mới bóc. Khuôn mặt bầu bĩnh cùng mái tóc dài thon thả bập bồng làm tôn thêm vẻ yêu kiều của nụ cười luôn tươi rói trên môi. Vẻ đẹp của nàng được người trong làng từ già tới trẻ truyền tai nhau không chỉ vang xa hàng vạn dặm trên lục địa mà còn theo từng con sóng nước truyền đến tai Thần Biển. Ngày cưới của hai người được ấn định vào ngày đẹp trời. Cả làng đều mong cho họ răng long Đầu tóc trắng hạnh phúc trăm năm. Rồi ngày đứng trước bàn thờ gia tiên cũng đã đến, hai người nguyện ước thiên thu không rời nhau. Bỗng đâu trời nổi giông gió, cát bụi mù mịt mọi người không thấy mặt nhau. Đất dưới chân rung rinh như muốn lún sụp thành vực thẳm. Trong bóng bão cát nhập nhoà hiện rõ gương mặt hung hãn của thần biển cùng ngôn ngữ chói lọi lỗ tai: Ai có gan tìm được nàng ta sẽ trả. Cô gái bị cướp đi trong tiếng gầm rú ghê người. Sau phút hoảng loạn công chúng cùng nhận ra rằng vì say mê dung nhan nên Thần Biển đến cướp cô gái về phục dịch trong Thủy cung.
Tự dưng mất nàng, lòng chàng trai đau như muối xát, giữ thề thốt sắt son xưa, được sự giúp sức của dân làng, chàng trai nhẫn nhịn nỗi đau tạm biệt hai người mẹ thân yêu cố chí đi tìm cứu vợ, thề rằng không gặp không về, nếu đuối sức ở đâu thì chết tại đấy. Một mình một ghe, lương khô lót bụng , lấy gió làm bạn, lấy mưa nắng che mình. Trải bao có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn, thử thách rồi một ngày kia, chàng bị bão táp nổi lên đánh bạt vào bãi đá một hòn đảo. Nhân lực có hạn, đói khổ và nỗi đau mất vợ cùng cùng sự mất hết hi vọng cô đơn xúm lại quật ngã chàng. Đất sáng, ánh dương dần chói chang cả vùng biển đẹp. Ráng đứng lên hướng nhìn đất liền, tạ lỗi với dân làng về niềm tin mà họ đã gửi gắm, chàng đứng sững trút hơi thở sau chót. Dân trên đảo gần đấy nghe tiếng kêu ai oán kế sau tiếng sét rung trời. Thì ra mến trọng lòng thuỷ chung và sự chịu đựng thử thách của chàng, Ngọc hoàng thượng Đế đã cho chàng hoá đá để mãi nhìn về quê hương trong khắc khoải đau thương vì lời thề chưa trọn. Về sau lâu dần, hình chàng được mưa gió ăn mòn thành hòn đá chồng lên nhau như hình người tiêm tế, đang trong cơn đau khổ tuyệt vọng nên được gọi là Đá Chồng, bãi đá có hòn đá ấy cũng được gọi là Bãi Đá Chồng. Cũng có người nói do hòn đá nhỏ chồng lên hòn đá lớn nên gọi Đá Chồng.
Ông bà xưa kể rằng mấy thày phong thuỷ người Tàu nói nếu đứng từ đây nhìn về Hội An thấy Cửa Đại và Hòn núi Chúa ở Khu đất thánh Mỹ Sơn là một đường thẳng. Đấy là hướng địa lí hợp cung càn khôn như là sự định đoạt hài hoà của Trời và Đất. Bởi thế đảo Chàm vốn liếng là đất linh nhưng đất vùng này còn là tụ điểm địa linh ít nơi bì được. Cũng có người nói vùng đất Bãi Chồng là trái tim của cả hòn Biền, hòn Lao nên mọi hoạt động ở đây phải cẩn thận lắm mới có kết quả tốt.
Đã có một thời bọn tàu ô người Tàu thường chọn nơi Bãi Chồng làm nơi giấu tàu để lùng cướp, trấn lột những lái buôn chân chính đến với cảng Hội An nên bãi cát gần Đá Chồng còn có tên Bãi Tàu. Nhưng có điều lạ là những tàu của bọn người làm điều phi nghĩa khi đậu ở đây sau thời gian ấy ra biển thường gặp nạn, không sóng lớn đánh vỡ tàu thì cột buồm cũng bị bẻ gãy, ít gặp bình an.
Với người lương thiện thì lại hay gặp may. Ai có lòng trước khi ra biển mà lên thắp hương lạy van sẽ dễ trúng lớn. Cá ở đâu không biết cứ về bơi hàng đàn quanh ghe để Quần chúng chỉ việc khoắng vợt xuống hớt lên. Chuyện xưa kể rằng ông Trùm Cải ở Bãi Làng có đứa con gái mới đẻ được hơn năm nhưng hai chân cứ bắt chéo nhau không dứng lên được mới sai vợ bồng đến đây neo ghe ngủ qua đêm , một lòng một dạ khẩn cầu thề thốt. Gần sáng bỗng một ông cụ râu tóc bạc phơ tay cầm cái gậy ngọc Như Ý đến gõ gõ vào chân con bé nói cha mày là Trùm , có lần làm ác mới đẻ ra mày dị tật, nay biết hối muốn làm điều lành, một lời cầu khẩn nên ta giúp đây, dậy mau, dậy mau, nói rồi biến mất. Mẹ con bàng hoàng trở dậy thấy chân con bé lành lặn không ngờ. Từ đấy không mấy ai dám làm ác ở Bãi Làng và ông Trùm Cải thì một lòng làm việc thiện, nghe nói rồi đây nhân chuyến đi chơi xa của một vị quan trong triều đến đảo qua tiếp kiến, lại nghe quần chúng một lòng một dạ khen ngợi nên thấy yêu mến bèn đưa về kinh cho làm chức lớn. Chốc chốc sau thời gian ấy , ông Trùm Cải vẫn đưa thê tử về thăm đảo và cho tiền giúp nhiều người nghèo vượt qua cơn khó. Về sau nghe nói ông Trùm chết già ở kinh còn nử tử lớn lên nức danh rất xinh và được làm dâu nhà quyền quý sung sướng cả đời.
Lại cũng hay tương truyền rằng vùng này linh lắm. Ai có người yêu, có chồng, vợ bị tệ , hoặc chẳng gặp may chuyện lứa đôi trong đời , cứ đến đây thì thầm ước nguyện là qua vận rủi , còn nếu không , cũng thoả được niềm ưu tư để thế cục xuôi chèo mát mái.
Truyện tích về Bãi Chồng ở đảo Chàm qua nhiều người truyền xa thâu Quảng Ngãi , Bình Định đều biết. Cũng có khi được tô vẽ thêm nhiều tình tiết đau lòng đầy bi cảm nhưng đều có hậu. Cũng lại có chuyện kể rằng sau khi chết , chàng trai và cả cô gái được Ngọc Hoàng cho diện kiến để thử lòng bằng cách hỏi nguyện vọng muốn được sinh vào nhà quyền quý cao sang hay muốn đầu thai trở lại làm phu phụ để thỏa ước nguyện base , dù cho phải sống nghèo. Trong hai chỉ được quyền chọn một. Cả hai đều nhất mực xin được sống với nhau cho trọn lời thề xưa , dù cho phải bần hàn. Rồi Ngọc Hoàng cũng không nỡ nên đã cho họ tái sinh trở thành cặp thất gia vừa ngh vừa nức tiếng thương yêu nhau hết mực , nghe nói là cặp thất gia khuôn phép số một trên trần gian này. Mỗi khi được nghe kể công chúng đều chép miệng ao ước , phải như mình được một góc của họ và cố tìm dịp để vượt sóng nước đến với Bãi Chồng , Đá Chồng và đảo Chàm đầy ắp những truyền thuyết.
Chùa Hải Tạng
Chùa cổ Hải Tạng - cù lao Chàm là công trình cấu trúc tôn giáo tư tưởng thờ Phật phối hợp thờ thần thánh nhằm đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng của ngư gia trên đảo đảo Chàm nói riêng và cho thương thuyền các nước ghé vào hành lễ cúng kính tập quán Phật giáo với kỳ vọng được phù trợ trên con đường làm ăn , buôn bán của họ.
Chùa được xây dừng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt cách nơi này khoản 200m về phía bắc vì do bão làm hư hại nặng nề , để thuận lợi cho các tín đồ thiên chúa giáo đến hành lễ Chùa được xây dựng vào năm Cảnh Hưng thứ 19 ( 1758 ) ở vịt xiêm cách nơi này khoảng 200m về hướng đông bắc , sau vì do bão làm hư hại nặng và để thuận tiện cho các tín đồ đến hành lễ nên vào năm Tự Đức nguyên niên ( 1848 ) Chùa được dời về vịt trời hiện tại và nối tiếp được tôn tạo khang trang hơn.
Chùa ở vào thế phong thủy lý tưởng , tọa lạc sát chân núi phía Tây của Hòn Lao thuộc cù lao Chàm , lưng tựa núi vững chãi , mặt tiền xoay theo hướng Tây – Tây Nam nhìn thẳng vào núi Bà Mộc như thể hòn xôi án ngữ. Đây là hướng nhìn lý tưởng , bởi có sự thông thoáng , tiền hậu , tả hữu phân minh. Ngay dưới chân là đồng ruộng , khu dân cư và mờ xa về lục địa là thành thị cổ Hội An. Phía Nam có khoảng trống gió lùa trải dài qua Rừng Cấm ( nay là Xóm Cấm ) đưa hơi nước từ Hòn Nhờn lướt qua trước mặt thổi lên khu dốc Chùa. Theo truyền thuyết , trước đây khu này rừng rậm có nhiều trăn , rắn độc. Bởi thế , để không có các mối nguy hiểm hoặc rủi ro , tường thành đùm bọc xung quanh chùa được xây bằng đá , cổng tam quan phía trước gồm 3 lối vào , tam quan tạo dáng vòm , mái lợp ngói âm dương và đắp nhiều con giống. Tất tam quan cao 5m , rộng nhất 1 , 5m , dài 6m. Kề ngay đấy là 4 trụ biểu , trên chóp trụ có khối hình hoa sen cánh lật… Dù tự nhiên hà khắc , lại phải đương đầu với nhiều trận cuồng phong hàng trăm năm qua nhưng đến nay , công trình chính vẫn vững vàng , bề thế. Tuy nhà Tây đã bị sập không có một sự hạn chế hay một trường hợp ngoại lệ nào cả , nhà Đông còn lại phần cấu trúc chính nhưng tuốt di tích vẫn toát lên vẻ hào sảng oai nghiêm hiếm thấy ở các di tích khác. Chính điện lợp ngói âm dương , bờ nóc , bờ hồi đắp nổi nhiều đường nét uốn lượn mềm mại, uyển chuyển tạo cảm giác nhẹ nhàng.
Lùi vào mái hiên khoảng 2,5m là hệ thống giao thông cửa ( thường khép kín), thượng song hạ bản , gồm 3 bộ , mỗi bộ 4 cánh ngăn không gian bên ngoài với không gian nội thất. Tuốt nếp nhà chính này có hệ vì kèo thành phần kiểu “chồng rường giả thủ” chia làm 3 lòng. Việc mở mang diện tích ở đây được sử dụng thủ pháp gia tăng lòng nhà bằng cách tăng cường hệ kết liên các cây rường, cột cái, cột quân và giả thủ trong thế đỡ thẳng lên đòn tay ( hoành ), lòng 3 của mái trước được ngăn cách bởi hệ thống giao thông cửa tạo thành mái hiên. Với lối cấu trúc này, cộng với kết liên ngang gồm 4 vì ( vài ) chia làm 3 gian, tạo cho không gian nội thất của chùa thoáng khí, vừa có chiều cao, vừa có chiều sâu và mở rộng.
Nội thất chùa kiều diễm nhờ hệ thống hoành phi , câu đối sơn son thếp vàng , oai nghiêm , trình tự mơ hồ thiêng liêng nhờ hệ thống giao thông tượng thờ đồ sộ trên những bàn hương án tả hữu , trước sau như những mạch nối tiếp huyền bí thẳm sâu trong quang cảnh oai vệ đầy màu sắc. Ngh ii là bộ Tam thế Phật bằng hợp chất gồm 3 tượng. Kế đến là tượng Thích Ca ngồi trên đài sen…
Chùa có nhiều truyền thuyết nhưng cư dân ở đây vẫn tâm đắc nhất câu chuyện về việc xây chùa. Tương truyền các cây cột được làm từ ngoài Bắc đem về làm một chùa nào đó trong Nam nhưng khi về đến cù lao Chàm vì trời tối nên phải neo ghe nghỉ lại. Sáng ra , ghe kéo neo đi tiếp , nhưng thật lạ thường , biển không dưng sóng dậy , ghe cứ xà quần , tới lui vòng vo không đi ra khỏi Lao. Sau có người trong đoàn lên cúng xin keo mới biết dàn cột này phải để lại dựng chùa cho cù lao Chàm không được đem đi. Vì thế chùa dựng lên lấy tên là Hải Tạng. Hải là biển , Tạng là kinh , ý nói Chùa là nơi tụ tập kinh tạng mênh mông như biển. Một ý khác là Kinh Tạng của Nhà Phật đây được giao hội từ mọi con đường trên biển.
Chợ Tân Hiệp Phiên chợ sớm trên đảo cù lao Chàm
Đến du lịch cù lao Chàm , du khách chẳng thể không ghé qua Chợ Tân Hiệp ( nhiều khách du lịch gọi là Chợ cù lao Chàm ). Chợ Tân Hiệp bán các đặc sản rừng , biển và quà lưu niệm , Chợ Tân Hiệp nằm ngay bên trong chân cầu tàu du lịch , kề bên bến cá Bãi Làng. Tuy rằng “chợ” nhưng lại thiếu hẳn những thanh âm ồn ã việc quen thuộc. Chỉ có những Dưới chân chuyển di rất chậm , để ngắm , để sờ nắm và để ngã giá với giọng vừa đủ nghe. Ví như muốn , viễn khách cũng có xác xuất ướm thử chuỗi hạt làm từ vỏ sò , thử hơi với chiếc tù ốc vỏ ốc hoặc giải nhiệt miễn phí với một cốc nước lá lao thơm lừng , ngọt lịm…
Đảo Yến
đảo Chàm là nơi độc nhất của tỉnh Quảng Nam có loài chim Yến hàng - Collocalia Fuciphaga Genmaini Oustalet, thuộc phân giống Yến hông xám ( Swiftlets ), giống Collocalia, họ Apodidac, bộ Yến Apdiformes. Chim Yến có dáng vóc chỉ nhỏ bằng chim sẻ, hông và bụng màu xám , tất cả thân thể nâu đen; cánh dài ( 115-125mm ), vút nhọn, bay rất khoẻ, đuôi ngắn, chẻ đôi; mỏ ngắn, dẹp, có xác xuất há rất rộng.
Hàng năm, vào cuối tháng 11 âm lịch, yến bắt đầu làm tổ theo một cách rất độc đáo: yến nhả nước bọt thành những dãi trắng lên những vách đá cheo leo của các hang động trên đảo. Dãi yến mới nhả ra có màu trắng phớt hồng, gặp gió quánh lại, chuyển thành màu trắng đục.
Tổ chim yến thường được làm gọi là yến sào hay tai yến. Yến đẻ trứng , ấp trứng và nuôi cho đến khi chim con đủ sức tự bay đi kiếm mồi. Tổ yến có hàm lượng dinh dưỡng rất cao, chiếm từ 36-52% protein và là một nguồn dược chất rất quý. Tổ yến giúp tăng sức đề kháng cho thân thể, bổ khí huyết, tráng dương, yên ổn thần kinh, chống lão hoá, làm đẹp nước da và có thể ngăn ngừa, thậm chí chữa được nhiều loại bệnh nan y như lao phổi, suyễn, viêm xương...Chính bởi vậy, yến sào là loại hàng hoá hiếm quý, có giá trên thịt thà từ xưa đến nay.
Ở Hội An , một ông lão họ Trần tình cờ phát xuất hiện tổ yến sau đó tổ chức khai khẩn và nộp thuế. Bởi thế, các chúa Nguyễn ( từ thế kỷ 17 ) đã cho lập “Đội Thanh Châu”, bản chất là giao cho dân làng Thanh Châu ( Hội An ) khai thác yến sào ở vùng đảo đảo Chàm và nộp thuế hàng năm cho nhà nước. Rồi đây, mở rộng vào các tỉnh Bình Định, Khánh Hòa.
Khai thác yến sào phải leo lên các vách đá chênh vênh, hiểm trở, bên dưới là mặt nước biển ăn sâu vào hang sâu, nếu sơ suất, người thợ khai thác khó an toàn tính mạng.
Ở đảo Chàm, chim yến thường làm tổ trong các hang ở Hòn Khô (mẹ), Hòn Lao , hòn Tai... Việc khai thác yến sào ở Hội An hiện tại do Đội khai thác Yến, trực thuộc UBND Thị xã phụ trách. Mỗi năm, khai khẩn 2 kỳ ( vào tháng 4 và tháng 8 dương lịch ).
Miếu tổ nghề Yến
Miếu tổ nghề Yến nằm ở Bãi Hương - Hòn Lao - đảo Chàm. Miếu Tổ nghề Yến được xây dựng có đầy đủ tất cả các bộ phận cấu thành cần thiết vào khoảng đầu thế kỷ 19 để thờ Tổ nghề Yến và Các ngài thần bảo hộ nghề Yên. Hàng năm vào ngày 10/3 âm lịch , cư dân và những người làm nghề khai khẩn yến tổ chức cúng rất linh đình để chuẩn bị cho mùa vụ khai thác mới
Trên bàn độc , ngoài các bài vị của những bậc tiền bối Mở đầu nghề yến sào là các ông thần liên quan đến sông biển. Trên tường bên hữu có tấm bia đá ghi công đức của các chư phái tộc và ca tụng vẻ núi kỳ vĩ của đảo Chàm.
6. Các món ăn ngon ở đảo Chàm
Mực một nắng
Phơi mực một nắng ( Ảnh - Nova 224 )
Mực một nắng cù lao Chàm khá Đa chủng với nhiều loại: mực lá , mực ống , mực tuộc , mực ghim... Song chỉ có mực ống mới chế biến được món mực một nắng ngon. Địa ngục ta chọn những con mực vừa mang từ biển về hãy còn tươi rói , sau thời gian ấy chỉ phơi độc nhất vô nhị một lần nắng giòn. Thật ra thao tác phơi chỉ là quá trình rút bớt nước cho bay bớt mùi tanh, mực còn ở dạng tái nên khi thưởng thức vẫn cảm nhận được độ tươi ngon của mực nhưng thấy cả hương vị của mực khô. Tuy nhiên, để mực một nắng ngon, người phơi cũng phải đảm bảo kỹ thuật, sao cho mực phơi rồi thân ngoài đã ráo hẳn nhưng bên trong thịt vẫn còn tươi rói.
Mực một nắng nướng tại chỗ được du khách rất ưa thích
Thường mực một nắng được khách du lịch chọn mua và nướng tại chỗ , thưởng thức ngay trên bãi biển cù lao Chàm lồng lộng gió. Mực một nắng tuy chế biến không khó nhưng đòi hỏi sự tỉ mỉ, phải nướng kỹ trên lửa than Khi mực chuyển sang màu vàng, mùi thơm bốc lên nưng nức hai cánh mũi là lúc mực vừa chín tới. Món này thường chấm với tương ớt cũng giống như mực khô nướng. Khi ăn, miếng mực ngọt ngào, mềm mềm, thơm phức , hòa quyện với vị cay nồng của tương ớt. Mùa câu mực ở cù lao Chàm diễn ra từ tháng 2-5 âm lịch nhưng đặc sản mực một nắng thì bạn có khả năng mua quanh năm.
Cua đá
Cua Đá là một món ngon dân dã của xứ đảo đảo mà ai từng đến đây cũng mong được nếm thử. Cua có vị thịt ngọt , thanh chứ không thoảng vị tanh không có gì lạ hoặc đặc biệt của động vật miền biển. Do cua đá ăn các loại cỏ cây trên núi , nên thịt cua nồng một mùi cây rừng , thơm đến lạ.
Mỗi con cua đá nhàng nhàng chỉ lớn bằng nắm tay , và có màu sắc rất chịu tác động hoặc ảnh hưởng rõ rệt , mai và các chi màu nâu tím , phần bụng dưới ngả màu vàng ươm. Cua đá rất khoẻ , chạy nhanh , và thường chỉ lú đầu khỏi hang khi đêm xuống để đi ăn. Đó cũng là lúc những cư dân trên đảo đi săn cua đá. Một thợ săn cua cho biết , đi săn mà gặp 10 con , bắt được 4 - 5 con là nghề lắm rồi.
Cũng do cái “tội” nhanh chạy , dẻo dai , leo núi khoẻ , lại chuyên “ăn chay” nên thịt cua đá rất ngon , từ cái nước luộc cua đã đượm vị ngọt nhẹ , dịu thanh , thịt cua dai hơn hẳn cua bể , cua đồng , không chút mùi tanh. Nhưng cái độc chiêu nhất khi thưởng thức cua đá , đó là hương thơm kỳ lạ. Giở ngược cái mai cua , túm mấy chân xé một đường , con cua mới luộc còn sỏi đá , phả làn khói nhẹ từ phần thịt nằm dưới mai cua , xông lên mũi thoảng đâu đó chút the the , cay cay mùi thảo dược , đem lại cho người ăn cảm giác cứ như đang hít hơi của nồi xông giải cảm.
Dân đảo ai cũng nói cua đá là một vị thuốc, hỏi kỹ thuốc trị bịnh gì thì… không ai rõ, nhưng chỉ biết ăn vào vừa ngon vừa lạ miệng, tinh thần thấy dễ chịu, cộng thêm cái hiu hiu của gió biển hoà cùng cảnh sắc trời mây sóng nước, khiến cho cái thi vị trong từng miếng thịt cua xứ cù lao càng tăng lên bội phần. Chẳng vậy mà cua đá từ lâu đã trở thành “ngôi sao” của ẩm thực ở cù lao Chàm, nên dù chỉ cách Hội An nửa giờ đi biển, con cua đá cũng không đủ nhiều để vào được bờ, cung cấp cho sa: cát những lữ khách ngày ngày để nghỉ ngơi miền Hội An, Cửa Đại.
Ốc vú nàng
thành thử đảo đảo vào ngày trăng tròn để thưởng thức những món ăn được chế biến từ ốc vú nàng. Bởi đơn giản vào mùa trăng tròn ốc vú nàng mới hiện ra nhiều. Không phổ quát như ở Côn Đảo , Phú Quý…nhưng ốc vú nàng cù lao Chàm là đặc sản lạt sạt, lạ mắt đối với nhiều du khách. Chỉ với tên thôi, loài ốc độc đáo này đã khiến nhiều người muốn tinh quái, lùng hiểu. Thực ra vú nàng là loài ốc hình chóp lệch , trên đỉnh có một cái núm nhỏ trông tựa như bầu vú của cô gái dậy thì , vỏ ngoài màu đen xám, mặt trong lóng lánh lưu li
Vì số lượng có hạn, nên dân bắt ốc chuyên nghiệp phải ngâm mình dưới nước hàng giờ, dùng đèn soi rọi vào tận kẽ đá , dùng mũi dao nhọn tách từng con ốc đang bám chặt vào thành đá. Thưởng thức từng con ốc giòn giòn, ngòn ngọt mới hiểu hết kỳ công của người đi bắt ốc. Địa ngục dân xứ biển có thể chế biến ốc vú nàng thành nhiều món, trước nhất là món luộc. Nói là luộc nhưng chẳng cần tí nước nào, những con ốc vú nàng tự thân khá nhiều nước, tự nó đủ nước luộc lấy.
Ốc bắt về ngâm nước cho sạch, xếp vào nồi, trong lúc luộc, mở nắp nồi, dùng đũa đảo ốc để cho thịt chín đều, sau đó vớt ra. Trong giây phút những con ốc vú nàng đã bắt đầu co dần, khi thịt đã chuyển sang màu vàng, mùi thơm lan tỏa là ốc chín. Món này ăn nóng cùng với muối tiêu, chanh, người sành ăn dùng tay húp luôn thanh thủy con ốc.
Món thứ đến là món nướng, món này chịu tác động hoặc ảnh hưởng rõ rệt không kém món luộc. Theo dân “ghiền” đặc sản biển , món ốc vú nàng ngon nhất vẫn là ốc vú nàng chín khi được nướng trên lò than. Sắp ốc lên vỉ nướng , vài phút sau nước ốc nhỏ ra vỉ nướng xèo xèo, mùi thơm bốc lên nưng nức hai cánh mũi. Ốc vú nàng nướng phải vừa chín tới ăn mới ngon , để quá lửa thì thịt bám chắc hay săn quắt lại rất khó gỡ ra. Cứ việc một miếng ốc vú nàng, một ngụm rượu, trong khoảnh khắc số vỏ ốc đã bỏ đầy một góc. Món gỏi ốc vú nàng cũng đầy hương vị thắm thiết khiến người thưởng thức khó mà quên được. Thịt ốc thái mỏng trộn với da lợn, thịt ba chỉ, dưa leo, rau răm, rau húng, đậu phụng rang giã dập nhỏ, chanh tươi, ớt và nước mắm ăn với bánh tráng nướng , chấm với nước mắm gừng là tuyệt không gì bằng.
Bào ngư
Bào ngư đảo Chàm là một loại ốc cực hiếm , được biết đến với nhiều tên gọi như ốc cửu không ( do có 9 lỗ trống ) hay hải nhĩ ( do có hình dáng giống cái tai ). Bào ngư được khách du lịch rất yêu thích. Thứ ốc này bám vào những tảng đá ngầm san hô ở vùng nước biển có độ mặn cao , sóng gió bởi thế rất khó bị phát hiện. Để bắt được bào ngư đảo Chàm , ngư dân có kinh nghiệm phải lặn sâu xuống biển và có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn lắm mới tách chúng ra khỏi những tảng đá.
Thịt bào ngư giòn , có mùi vị thơm. Các món từ bào ngư nếu biết cách kết hợp với các gia vị sẽ tạo nên những món ăn vô cùng quyến rũ mà không loại thuỷ sản nào sánh được. Bào ngư tươi có khả năng chế Hình thành nhiều món ăn như luộc, hấp , xào tùy theo từng khẩu vị của thực khách. Nhiều người ưa món bào ngư luộc với gừng. Để bề mặt thịt bào ngư sau khi luộc không bị rút lại và hiện ra các vết nứt phải bỏ bào ngư vào nồi khi nước gừng sỏi đá. Bào ngư luộc chấm muối tiêu chanh , thịt sẽ béo ngọt , ăn vào cảm giác lạ miệng, rất đặc biệt so với những loại thuỷ sản khác.
Rau rừng
Rau rừng cù lao Chàm tập hợp gồm 16 loại cây lá rừng mang hương vị của thuốc nam rau rừng mọc hoang ở các chân núi , khá phong phú về chủng loại: rau dớn , rau sân , rau lủi , mã đề… Đầu hạ là vào mùa chính thu hoạch rau rừng của đảo này. Giản đơn nhất là luộc rau , chấm mắm cái dầm ớt tỏi , khi thưởng thức món này. Qúy khách có khả năng thấm tháo được mùi của các loại rau hòa quyện lại với nhau làm nên một mùi thơm rất là đặc biệt và mang đặc trưng riêng của rau rừng cù lao Chàm
bánh gio lá gai
Thuở ban đầu , bánh ít lá gai cù lao Chàm chỉ hiện ra trong dịp lễ , tết truyền thống. Nhưng nhờ hương vị thơm ngon , bánh tro lá gai đảo Chàm thành thương hiệu riêng , nức danh và không biết tự bao giờ , bánh ú là gai nơi biển đảo cù lao Chàm đã trở nên hương vị khó quên với nhiều du khách mỗi lần ghé thăm.
Để cho sinh ra một chiếc bánh gio lá gai ngon phải trải qua rất nhiều công đoạn , đòi hỏi người làm bánh phải khéo léo và kĩ càng. Riêng tại vùng đảo cù lao Chàm quy trình làm bánh rất riêng , khó có khả năng nhầm lẫn. Đi hàng đầu chọn loại lá gai tươi. Địa ngục nấu bánh phải vào tận rừng trên đảo để tìm bằng được những gùi lá gai xanh đậm. Lá đem về xé làm hai , tước bỏ xơ , sống lá , rửa sạch , luộc cho lá mềm nhừ rồi vớt ra để nguội , vẩy cho thật ráo nước. Tặng vào cối hoặc máy nghiền từng ít một , giã cho lá nhuyễn mịn. Công đoạn tiếp theo là quết bột bằng cách trộn đều bột nếp ( loại bột nếp lúa mới , vừa thơm vừa dẻo ) sau thời gian ấy quết hỗn tạp bột với lá gai đã giã mịn. Khâu quết bột quyết định bánh có ngon hay không. Phải quết thật kỹ , nếu không hỗn tạp bột sẽ bị lợn cợn làm bánh không mịn. Sau khi quết , trộn đều nước đường tỉ lệ vừa ăn với hỗn hợp bột và lá gai , nhồi kỹ lần nữa cho thật mịn bóng.
Riêng phần nhân bánh làm bằng đậu xanh được hấp chín , giã nhuyễn mịn trộn với ít đường. Tuy nhiên , để có được chiếc bánh tro ngon và đạt hạng như ở vùng đảo cù lao Chàm , phần nhân bánh không chỉ thuần túy làm bằng đậu xanh mà còn trộn chung với dừa nạo sợi trụng qua nước sôi để ráo và không quên nhỏ thêm vài giọt dầu hoa bưởi. Cuối cùng là gói và mang bánh đi hấp. Địa ngục ta chọn lá gói bánh gio là lá chuối chát ( chuối hột ) , không dùng lá chuối khác. Địa ngục gói bánh phải đảm bảo bánh gói cho nhanh , cho khéo. Từng cục bột được dàn mỏng , cho nhân vào , vo tròn. Lót từ hai đến ba miếng lá chuối xếp mí lên nhau , thoa làm bộ lá trong cùng ít dầu ăn rồi đặt viên bánh vào giữa. Chỉ cần vài ba làn sóng điện khéo léo từ đôi bàn tay người thợ là đã có những chiếc bánh tro lá gai hình tam giác , hình tháp xinh xắn.
Bánh gói xong mang đi hấp cách thủy trong nồi nước sôi để lửa lớn. Khâu hấp bánh tưởng giản đơn nhưng cũng khá kỳ công và quyết định chất lượng bánh. Bánh phải xếp thưa , không quá hai chồng để dễ chín đều. Hấp đúng 30 phút sau khi nước sôi là được. Nhanh tay lấy bánh ra, để chỗ thoáng gió cho lá mau ráo.
Từ lâu, bánh tro lá gai là niềm tự hào của người dân nơi phố cổ Hội An. Người con xa quê trên mỗi bước đường cứ nhớ hoài mùi hương gạo nếp , hương lá gai thoảng trong từng chiếc bánh ít nhỏ nhắn. Mỗi du khách khi đến Hội An cũng tìm đường vượt sóng đến được đảo đảo Chàm để tùy ý thưởng thức những chiếc bánh gio hay tận mắt chứng kiến cách làm bánh rồi mua về làm quà cho người thân.
7. Các lễ hội ở đảo Chàm
hội lễ cầu ngư
Đến với Cù lao, du khách chẳng những ngắm chơi phong cảnh tuyệt đẹp với biển xanh, cát trắng, nắng vàng cùng những rạn mã não tuyệt đẹp , mà du khách còn bị thu hút bởi những giá trị văn hoá tinh thần , các hình thái văn hoá phi vật thể vốn được bảo lưu bền bỉ, lặng thầm, Quanh co tối tăm trong cuộc sống đời thường của các thế hệ cư dân hải phận đảo, mà trong đó lễ cầu ngư là một trong những lễ hội tiêu biểu của cư dân xứ đảo này. Gồm: Thi cầu ngư năm nay diễn ra trong 2 ngày 23-24/4/2012 ( tức ngày mồng ba và mồng bốn tháng tư âm lịch ).
Việc tôn sùng, tín bái cá voi là một Phong khí có từ lâu đời của hồ hết ngư dân vùng ven biển miền Trung Việt Nam. Có xác xuất nói, nơi nào có ngư dân sinh sống làm ăn thì nơi đó có lăng Ông để thờ cá kình. Quan niệm của những người đánh cuộc ý là, cá ông là vị thần biển nhân ái tính , thường hiện ra cứu vớt những người bị nạn trên biển, là vị phúc tinh kịp thời của dân chúng trên vùng biển mênh mông khi gặp nạn lụt. Vì vậy, khi có cá voi lỵ ( lụy ) do đánh nhau với cá mập, cá xà, dạt vào bờ thì người ta có nhiệm vụ phải làm đám tang đúng theo sách Thọ mai gia lễ , sau đó mai táng và đưa xương vào lăng thờ cúng. Ngày trước , nhà nước phong kiến Việt nam cũng xác nhận vai trò quan yếu của cá kình đối với ngư gia, nên đã Hai ba lần ban sắc phong, gia tặng mỹ tự là “Nam Hải Cự Tộc Ngọc Lân tôn thần” và cho ngư gia tứ bề xây lăng lập miếu để thờ.
Ở đảo Chàm , khi ngư dân phát hiện được xác cá ông luỵ họ thường đem chôn người chết tại Bãi Ông ( thôn Bãi Ông ) , vì nơi đây bãi biển có độ dốc thấp và có đất đai thông đạt các ngả nên rất tiện lợi cho việc chôn người chết. Sau khi chôn được 3 năm , người ta đào lấy xương cá voi, dùng rượu rửa sạch và thỉnh về thờ tại lăng Ông ở Bãi Làng.
Hàng năm , trước khi để sẵn ra khơi đánh bắt cá vụ nam , ngư gia đảo Chàm thường tổ chức lễ cúng tại lăng Ông làm gọi là lễ cầu ngư. Xuân Thu ( này được tổ chức khá quy mô với sự tham dự của hầu hết ngư gia sinh sống trên đảo và đông đảo ngư gia ở các vùng lân cận. Trong suốt ngày lễ, ngoài việc cúng tế, người ta còn tổ chức hát bả trạo mà người dân xứ sở quen gọi là hát chèo ( hát bả trạo hay hát chèo là vừa hát vừa cầm chèo biểu đạt âm thanh chèo thuyền, chứ không phải chi hát chèo ở miền Bắc ).
Lễ cúng cầu ngư được diễn ra theo nghi thức tế lễ truyền thống vốn có từ bao đời nay của địa phương. Nhạc tế thường diễn ra trong hai ngày , ngày đầu người ta tổ chức bày trí trần thiết trong lăng; đến tối thì tiến hành tế tự túc ( còn làm gọi là lễ cáo yết hay lễ tiên thường ). Sang ngày hôm sau thì tổ chức lễ nghinh thần. Để tiến hành lễ nghinh , người ta làm một kiệu thần rồi đặt lên một chiếc thuyền lớn , trên thuyền trang hoàng cờ hoa , cờ hội rất là Xinh đẹp. Ngoại giả , còn bố trí chiêng trống , đội nhạc để bổ trợ trong lễ nghinh thần. Sau khi nghinh thần về người ta tiến hành cúng âm linh , cầu an. Gồm: Thi cúng âm linh kéo dài khoảng hơn một giờ , sau đó người ta hoá vàng mã và tiếp kiến phần tễ ông Ngọc Lân Nam Hải. Thư tế Ông thường bao gồm ba phần chính đó là sơ hiến lễ , á hiến lễ và chung hiến lễ; Trong lễ cúng bao giờ cũng có xướng tế , đọc văn tế và đi gia lễ. Thành phần tham dự chính yếu trong lễ tế là các cụ cao niên , cư dân xứ sở và ngư dân ở các vùng lân cận. Thông thường sau khi kết thúc tế lễ là phần hát chèo bả trạo , quá khứ người ta còn tổ chức lũ 6 , 7 ngày. Sau lễ cầu ngư , ngư gia thường tổ chức các hoạt động thể thao vui chơi tiêu khiển như: đua thuyền , lắc thúng chai, kéo co…
mục tiêu chính của lễ cúng cầu ngư và hát bả trạo là nhân lúc trước khi ra khơi , người ta tổ chức cúng ông Nam Hải và chư thần để mong mỏi làng xóm bình yên , những người ra khơi được thuận buồm xuôi gió , đánh bắt được nhiều thuỷ sản. Nhạc cầu ngư ở cù lao Chàm là một trong những hội lễ dân gian truyền thống tiêu biểu của xứ Cù Lao; Đây là một hội lễ gắn liền với tư tưởng sông nước của đai da sống mũi dân làm nghề biển nên mỗi khi tổ chức đều thu hút đông đảo nhân dân hăng hái tham dự. Qua lễ hội này có thể thấy được sự phong phú , đa dạng về các hoạt động văn hoá lễ hội ở đảo Chàm.
Lễ giỗ tổ nghề Yến ở đảo Chàm
Với mỗi một nghề , người Việt đều có ông tổ nghề và mỗi năm đến một ngày nhất mực người dân lại có tục cúng tiên sư với lòng thành kính , tri ân. Nghề lấy yến ở cù lao Chàm - Hội An cũng thế. Theo người dân cù lao Chàm thì nghề khai khẩn yến sào chính thức ra đời tại làng vào khoảng giữa thế kỷ XVIII , với hai tổ nghề là ông Trần Tiến và Hồ Văn Hòa.
Vào ngày mồng 9 và 10 tháng Ba âm lịch hàng năm tại xã đảo Tân Hiệp- cù lao Chàm người dân lại tổ chức lễ tế nhằm mong mỏi biển trời hộ trì và tưởng niệm tri ân các bậc tiền bối đã có công trạng đối với nghề khai thác Yến sào; song song nâng cao niềm kiêu hãnh và ý thức gác canh nguồn tài nguyên thiên nhiên quý hiếm của hải phận đảo. Ngày cúng bái diễn ra như ngày hội với nhiều hoạt động phong phú: Tế Tổ nghề Yến, Vui hội làng chài (đua ghe ngang, kéo co bằng thuyền trên biển, hội Bài chòi, trò chơi bịt mắt đập nồi), đêm hội đảo ( biểu diễn đáp ứng các tiêu chuẩn thẩm mỹ và sự nhạy cảm cổ truyền, giao lưu văn nghệ đất liền- hải đảo- du khách ), Chợ ẩm thực món ngon cù lao Chàm ( các đặc sản biển, rau rừng, bánh ít, tổ yến khô, yến chưng hột sen, rượu yến, rượu hải sâm- bào ngư... ), Tour tham quan thắng cảnh biển đảo- các khu du lịch cù lao chàm , hang Yến sào (hang Tò Vò), làng chài Bãi Hương, xem hổ phách, các loài hải sản dưới biển bằng thuyền đáy kính và thúng đáy kính lĩnh vực Bãi Nần.

Vòng quay Mặt Trời – Sun Wheel” phục vụ du khách kể từ sáng 19-7.

“Vòng quay Mặt Trời – Sun Wheel” là vòng quay thuộc Top 10 thế giới và là vòng quay lớn nhất tại Việt Nam hiện nay, có độ cao 115m với trọng lượng lên tới 980 tấn gồm 64 cabin, mỗi cabin chứa 6 người, tổng sức chứa 384 người cho một vòng quay trong thời gian 15 phút.

“Vòng quay Mặt Trời – Sun Wheel” được chiếu sáng nghệ thuật bằng 13.000 chiếc đèn LED lắp trên 32 nan của vòng xoay. “Vòng quay Mặt Trời – Sun Wheel” được sản xuất bởi Tập đoàn Sanoyas Hishino Meisho (Nhật Bản).

Từ trên cabin của “Vòng quay Mặt Trời – Sun Wheel”, du khách có thể bao quát được toàn cảnh TP Đà Nẵng rực rỡ trong đêm, hoặc thong thả dạo bước trong khuôn viên được thiết kế theo phong cách kiến trúc độc đáo, có dịp ngắm cảnh sông nước hữu tình và tâm linh với bức tượng Phật Di Lặc được các nhà điêu khắc đúc từ đá nguyên khối cao 4,7m và nặng 20 tấn.

NGUYÊN KHÔI


Không có nhận xét nào: