Thứ Tư, 23 tháng 7, 2014

Nghề "người nhện" giữa biển

Đảo Chàm là một cụm đảo, về mặt hành chính thuộc xã đảo Tân Hiệp, thành thị Hội An, tỉnh Quảng Nam, nằm cách bờ biển Cửa Đại 15 km và đã được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Đảo Chàm bao gồm 8 đảo: Hòn Lao, Hòn Dài, Hòn Mồ, Hòn Khô mẹ, Hòn Khô con, Hòn Lá, Hòn Tai, Hòn Ông. Dân số trên các hòn đảo này gồm khoảng 3.000 người.

Đảo Chàm là một di tích văn hoá lịch sử gắn với sự hình thành và phát triển của thành thị thương khẩu Hội An. Bản đồ Tây-phương xưa thường ghi Cù lao Chàm với tên "Champello" lấy từ tiếng Nam-Ấn ( Autronesian ) "Pulau Champa". Đảo Chàm còn có các tên khác như Puliciam, Chiêm Bất Lao, Tiên Bích La. Tại đây còn nhiều di tích thuộc các nền văn hoá Sa Huỳnh, Chăm Pa, Đại Việt, với các công trình kiến trúc cổ của người Chăm và người Việt có niên đại đồ đồng thau vài trăm năm.

Đây còn là một địa điểm du lịch cù lao chàm có khí hậu quanh năm tươi tốt, hệ động cây cỏ phong phú, đặc biệt là nguồn thuỷ sản và nguồn tài nguyên yến sào. Các rặng mã não ở chuye biển Đảo Chàm cũng được các nhà khoa học đánh giá cao và đưa vào danh sách bảo vệ.

Tháng 10 năm 2003, Khu bảo tồn tự nhiên Đảo Chàm được thành lập để giữ giàng sinh vật hoang dã trên đảo, là 1 trong 15 Khu bảo tàng biển của Việt Nam vào thời điểm 2007.

Ngày 29.5.2009, với hệ động thực vật sản vật phong phú và những di tích lịch sử hàng trăm năm trước, đảo cù lao Chàm được UNESCO xác nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới trong phiên họp thứ 21 của Ủy ban Điều phối quốc tế Các quy định con người và sinh quyển diễn ra tại đảo Jeju ( Hàn Quốc ).

Mời quý khách đến với Tour du lịch cù lao chàm (xuất phát hàng ngày)  do công ty du lịch xứ Đà đảm nhiệm sẽ làm hài lòng quý khách. Các lĩnh vực, bài viết khác về du lịch xin qúy khách xem bên dưới:

Thuyền từ đất liền tiếp cận đáy hàng khơi để "đổi ca".

Nghề không mất mạng cũng khó vẹn toàn cơ thể

Phải qua mấy lần hẹn, anh Trương Tài, một ngư dân quen biết qua mấy lần tác nghiệp ở thị trấn Mỹ Long, mới thu xếp được cho tôi theo một chuyến ra "căn cứ" đáy hàng khơi của anh. Người đàn ông có nước da đen sạm, trông già hơn so với cái tuổi gần "tứ thập" của mình, nêu lý do: "Phải đợi qua đợt biển động, mới dám rủ nhà báo đi cùng. Bởi cái nghề "người nhện" giữa biển này rất nguy hiểm!...".

Từ bãi thuyền cách trung tâm thị trấn non nửa cây số, tờ mờ sáng đã có hàng chục ngư dân kéo ra để đưa thuyền xuống biển. Tại đây, tài sản quan trọng của gia đình anh Tài là chiếc thuyền gỗ gắn máy, đã chờ sẵn. Chuẩn bị xong xuôi, dưới sự điều khiển của ông chủ, con thuyền bắt đầu lướt trên ngọn sóng, hướng về phía cửa biển Cung Hầu.

Trên thuyền, anh Tài tranh thủ kể cho tôi nghe về lịch sử nghề đóng đáy, vốn xuất hiện ở làng biển Mỹ Long từ khi người Việt đặt chân đến đây. Đại ý rằng, từ những năm đầu thế kỷ 20, hàng chục, rồi hàng trăm hàng đáy đã mọc lên ngoài khơi, vây kín các cửa biển từ Cổ Chiên, qua Cung Hầu, xuống Định An...

Nghề đáy phát triển kéo theo các nghề dịch vụ khác như đóng ghe, làm buồm, nuôi tằm, dệt lưới... "Mặc dù vất vả, cực nhọc, nhưng nghề đóng đáy hàng khơi đã nuôi sống nhiều thế hệ người Mỹ Long. Tính đến nay, nhà tôi đã có 4 thế hệ theo nghề này. Mùa nào có gì bắt nấy. Từ xưa đến nay vẫn vậy. Chỉ khác là bây giờ có thuyền gắn máy, lưới không phải tự đan..." - Anh Tài tâm sự.

Giải thích sâu hơn về cái nghề mà người ta gọi đùa là "người nhện" trên biển, anh Tài cho biết, nghề đóng đáy hàng khơi dựa trên nguyên lý lên xuống của thủy triều. Tại các vùng cửa biển, ngư dân dùng những cọc lớn bằng gỗ tràm, đóng thành từng hàng sâu chừng 10m xuống đáy biển, sau đó dùng dây chão nối các cọc với nhau, rồi ghép lưới vây kín khẩu đáy. Khi thủy triều lên xuống, tạo ra dòng chảy dẫn các luồng cá di chuyển theo, chui vào túi qua các khẩu đáy gọi là "lú".

Khác với các nghề biển đang gặp khó khăn vì giá cả, chi phí xăng dầu tăng cao, nghề đáy ở thị trấn Mỹ Long và hai xã Mỹ Long Bắc, Mỹ Long Nam vẫn thu hút khá đông lao động, bởi nghề này chi phí ít.

Tuy nhiên, có là người làm nghề mới "ngấm" sự cực khổ, bấp bênh và nguy hiểm thế nào. Theo anh Tài, trong lúc biển lặng, sóng êm, các thợ đáy di chuyển trên các cọc đáy có phần nhàn nhã, nhưng khi mưa gió, biển động, các chòi cọc rung bần bật, việc thu đáy rất cực và nguy hiểm. "Chỉ riêng việc thả đáy và ghim cho lưới nằm sát dưới đáy biển, thuận theo chiều con nước chảy cũng rất khó khăn, cần những thợ đáy lành nghề, có sức khỏe dẻo dai mới làm được. Lúc di chuyển trên các cọc đáy, nếu chẳng may sơ sẩy, bị rớt xuống nước, không mất mạng cũng khó vẹn toàn cơ thể..." - Anh Tài cho biết thêm.

Đau đáu với "di sản" của cha ông

Tại khu vực đặt đáy của anh Tài, tôi thấy những căn chòi lá nho nhỏ như tổ chim ôm lấy cây cột đáy, gió xô lắc lư, đu đưa theo sóng, nằm cách mặt biển chừng 10m. Những căn chòi này được "treo" trên các cây kè cắm liền nhau. Mỗi miệng đáy được nối với nhau bằng sợi dây thép lớn đu đưa giống như cây cầu treo nhỏ xíu nối hai bờ trên đất liền.

Sau khi hoàn thành việc tiếp tế gạo, thức ăn, nước uống cho em trai đang trong "phiên trực", anh Tài bắt đầu công việc chính là cùng em tiến hành thu đáy. Với 12 khẩu đáy, sau khoảng một tiếng rưỡi đồng hồ, thuyền của anh Tài được "ăn hàng" gồm vài chục ký tép moi, cùng một mớ lớn cá biển các loại. "Mùa này tôm, ghẹ không nhiều, chủ yếu là tép moi, mỗi ngày được chừng này là may lắm rồi..." - Miệng nói tay làm, từng động tác của anh Tài thể hiện sự thành thục với nghề. Nhoài người ra ngoài mũi thuyền, men theo dây lưới mà nhấc dần từng đoạn lên khỏi mặt nước, bàn tay đầy những vết sẹo của anh cứ thoăn thoắt như múa.

"Trụ sở làm việc" giữa biển khơi của những người thợ đáy nhìn từ phía xa.

Hoàn thành việc nhận bàn giao "ca trực", trèo lên căn chòi gác đáy, bên trong đã có đủ các loại vật dụng thiết yếu cho mấy ngày làm "người nhện" trên biển, anh Tài giao cho cậu em chuyển "chiến lợi phẩm" và lái thuyền đưa tôi trở lại bờ. Trên đường trở về, theo hẹn trước, thuyền ghé vào khu đáy của ông Nguyễn Hai, để giúp ông quá giang vào đất liền qua 4 ngày "trực chiến" trên biển. Là một ngư dân kỳ cựu trong nghề, từ khi còn rất nhỏ, ông Hai đã theo các cụ đi đáy hàng khơi, đến khi lấy vợ thì tách ra làm riêng.

Đến nay, đã hơn 60 tuổi, vợ chồng, con cái ông vẫn gắn với cái nghiệp "cha truyền con nối''. Nói chuyện với tôi, ông Hai nói đùa rằng, gắn bó với nghề đáy đã lâu, bây giờ ông có thể "ngửi" nước, "ngửi" gió mà đoán được dưới luồng biển có cá hay không. Do có kinh nghiệm, lượng hải sản ông đánh bắt được thường nhiều hơn những người khác, vì vậy tuy không giàu với nghề, nhưng ông vẫn có được một cơ nghiệp đàng hoàng...

Thuyền cập bờ, nở nụ cười tươi nhưng vẫn không giấu được vẻ mệt mỏi trên gương mặt sạm đen vì nắng gió, ông Hai mời tôi về thăm nhà để "lai rai ba xị đế". Bên chiếu rượu đối ẩm, ông tâm sự: "Bao năm nay, dù kỹ thuật đánh bắt của các nghề khác có thay đổi như thế nào, thì cái nghề đáy hàng khơi vẫn thế, dựa hết thảy vào sức người. Phải là những người đàn ông can đảm, nhanh nhẹn, khỏe mạnh nhất, biết ra biển từ nhỏ mới kham được. Tuy đầy nguy hiểm, vất vả, nhưng nghề đáy hàng khơi vẫn là miếng cơm, manh áo của ngư dân Mỹ Long. Ở vùng này, mỗi ngư dân kiếm được khoảng 3,5-4 triệu đồng, nếu trúng khoảng 8-10 triệu đồng/tháng là chuyện thường. Thu nhập từ nghề của họ đủ nuôi sống cả gia đình, lo cho con cái ăn học...".

Theo ông Hai, Mỹ Long bao quanh là biển, nghề đáy hàng khơi đã trở thành động lực giúp ngư dân vượt qua khó khăn trong thời buổi kinh tế thị trường, một phần do không chọn được nghề nào khác. Tuy nghề "người nhện" đã gây ra nhiều mất mát, đau thương không thể bù đắp, song vị mặn mòi của biển khơi đã thấm vào từng thớ thịt của con người nơi đây, nên việc bám biển là niềm tin bất di bất dịch. "Ông bà trước đây để lại nghề đáy hàng khơi được thiên hạ coi là nghề hạ bạc, nhưng giờ đây, biển cả bao la đã mang lại ấm no cho hàng trăm hộ ngư dân làng biển Mỹ Long. Ngoài việc việc mưu sinh, ngư dân Mỹ Long luôn ý thức bám biển để bảo vệ chủ quyền biển đảo thiêng liêng Tổ quốc!" - Ông Hai tâm sự.

Nguyễn Long


Không có nhận xét nào: